Nợ công của Việt Nam: Bức tranh mới và sáng hơn

Các chỉ tiêu an toàn nợ công tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ trong giới hạn, dịch chuyển tích cực hơn với kỳ hạn và chi phí tốt hơn các giai đoạn trước.

Ngày 18/10 Chính phủ đã gửi đến Quốc hội báo cáo về tình hình nợ công năm 2022 và dự kiến năm 2023.

Theo đó, yêu cầu tổng khối lượng huy động vốn của Chính phủ cả năm 2022 đạt khoảng 619.492 tỷ đồng, trong đó vay cho cân đối ngân sách trung ương gần 93% dự toán vay được Quốc hội phê duyệt (khoảng 600.046 tỷ đồng), rút vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài để vay lại hơn 19.440 tỷ đồng (đạt gần 73% kế hoạch Thủ tướng duyệt).

Tăng thêm chủ động

Báo cáo của Chính phủ cho thấy, bức tranh nợ công của Việt Nam đã và đang tăng thêm tính chủ động, khi cơ cấu nguồn trong nước chiếm chủ yếu. Điều này cũng phản ánh sức mạnh nội lực của các nguồn trong nước thay vì dự nhiều vào vay nước ngoài như các giai đoạn trước đây.

Cụ thể, vốn huy động của Chính phủ chủ yếu từ nguồn vay trong nước chiếm tới 92%, thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP). Nêu kỹ hơn về TPCP, Chính phủ cho biết, biến động trên thị trường tiền tệ, ngoại hối đã tác động mạnh tới tâm lý các nhà đầu tư. Lãi suất giao dịch TPCP vừa qua tăng mạnh từ giữa tháng 2 đến tháng 5, sau đó duy trì ổn định, rồi tăng trở lại từ giữa tháng 7. Hiện lãi suất giao dịch TPCP trên thị trường sơ cấp tăng 1,07-2,3% một năm so với đầu năm nay.

Các nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp có xu hướng tăng lãi suất dự thầu, giảm khối lượng dự thầu. Hiện tỷ lệ dự thầu/gọi thầu bình quân tới giữa tháng 9 là 1,5 lần, giảm khoảng 1,1 lần so với cùng kỳ 2021. Điều này ảnh hưởng tới kế hoạch phát hành TPCP năm 2022.

Bối cảnh thu ngân sách trung ương năm 2022 vượt dự toán, giải ngân vốn đầu tư công bằng nguồn ngân sách trung ương chậm… Chính phủ cho biết, phát hành TPCP những tháng cuối năm sẽ “phù hợp để đáp ứng yêu cầu chi ngân sách”.

Vừa qua, Bộ Tài chính cũng cho biết, cân đối với thu – chi ngân sách, đặc biệt với tiến độ giải ngân vốn ngân sách, cơ quan này đã có chủ động điều tiết khối lượng huy động thêm qua phát hành TPCP, góp phần tối ưu thêm chi phí cho ngân sách…

Về huy động vốn nước ngoài, các khoản vay ưu đãi nước ngoài tính tới 9 tháng đầu năm là gần 185 triệu USD, gồm các khoản ODA từ Hàn Quốc (33,5 triệu USD), Nhật Bản (151 triệu USD). Mức lãi suất vay 0,1% một năm trong 40 năm, ân hạn 10 năm. Từ nay tới cuối năm Chính phủ sẽ đàm phán, ký 6 hiệp định vay ưu đãi, khoảng 188 triệu USD.

Do Việt Nam đã trở thành quốc gia thu nhập trung bình, nên việc cấp vốn vay ưu đãi kèm điều kiện kém ưu đãi hơn, sát với thị trường với lãi suất thả nổi. Dự báo các hiệp định vay ưu đãi tới đây sẽ thu hẹp hơn, nhằm giảm rủi ro tỷ giá, lãi suất và đảm bảo an ninh tài chính.

Nghĩa vụ trả nợ nằm sâu dưới trần

Với nghĩa vụ trả nợ, Chính phủ cho biết, tổng trả nợ của Chính phủ năm 2022 ước khoảng 324.583 tỷ đồng, trong đó trả nợ trực tiếp khoảng 294.300 tỷ đồng, đạt 98% dự toán; trả nợ vay nước ngoài về cho vay lại ước khoảng 30.283 tỷ đồng. Nghĩa vụ trả nợ các khoản vay trong nước chiếm trên 82% tổng nghĩa vụ trả nợ ngân sách Trung ương. Chỉ tiêu nghĩa vụ trả nợ trực tiếp Chính phủ năm nay so với thu ngân sách khoảng 18-19%, dưới mức trần 25% Quốc hội cho phép.

Năm nay ngân sách địa phương vay khoảng 19.184 tỷ đồng, tổng trả nợ gốc khoảng 3.309 tỷ đồng; trả nợ lãi, phí khoảng 1.818 tỷ đồng. Dự kiến bội chi ngân sách địa phương năm nay khoảng 15.875 tỷ đồng, giảm 9.125 tỷ so với dự toán Quốc hội quyết định.

Về vay nước ngoài của Quốc gia so với GDP năm nay khoảng 40-41% GDP, trong mức trần nợ nước ngoài của quốc gia 50% GDP được Quốc hội phê duyệt. Về trả nợ nước ngoài của quốc gia, dự kiến ở mức 6-7% (tính trên cơ sở kim ngạch xuất khẩu 368 tỷ USD), trong giới Hàn Quốc hội cho phép (25%).

Chính phủ khẳng định các chỉ tiêu an toàn nợ công tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ trong giới hạn được Quốc hội quyết định, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và góp phần củng cố tính bền vững của chính sách tài khóa tạo dư địa dự phòng để có thể chủ động ứng phó với rủi ro vĩ mô.

Theo đó, nợ công năm 2022 ước thực hiện 43-44% GDP; nợ Chính phủ 40-41% GDP; nợ nước ngoài của quốc gia 40-41% GDP; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp Chính phủ 18-19% thu ngân sách nhà nước và nghĩa vụ trả nợ nước ngoài quốc gia 6-7% kim ngạch xuất khẩu (368 tỷ USD).

Cơ cấu nợ Chính phủ đến cuối năm 2022 tiếp tục duy trì theo kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021-2025 và định hướng Chiến lược nợ công đến năm 2030 đã đề ra.

Chính phủ cũng phân tích, dư nợ trong nước tăng lên, chiếm 70% dư nợ Chính phủ, chủ yếu là TPCP có kỳ hạn phát hành dài (trung bình khoảng 13,78 năm tính đến 14/9/2022); nợ nước ngoài chủ yếu vẫn là vay ODA, vay ưu đãi dài hạn, góp phần giảm thiểu rủi ro tỷ giá, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Quảng cáo

Ngoài ra, nợ được Chính phủ bảo lãnh tiếp tục xu hướng giảm mạnh, từ mức 8,8% GDP năm 2015 xuống còn khoảng 3,2% GDP năm 2022.

Giảm thiểu rủi ro, khó khăn phía trước

Cũng theo báo cáo trên, chủ nợ đối với danh mục nợ của Chính phủ đa dạng. Với nợ trong nước, cơ sở nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu Chính phủ đã được phát triển theo hướng đa dạng, tăng cường vai trò của các nhà đầu tư dài hạn, giảm dần tỷ trọng nắm giữ trái phiếu chính phủ của các ngân hàng thương mại.

Dư nợ vay bằng tiền VND chiếm phần lớn danh mục nợ Chính phủ, dự kiến đạt trên 70% đến hết năm 2022. Kỳ hạn phát hành bình quân của danh mục nợ tiếp tục duy trì tương đối dài, lãi suất hợp lý, phù họp với diễn biến thị trường.

Quản lý, sử dụng nợ công tiếp tục được tăng cường, ngày càng hiệu quả hơn; quán triệt tinh thần tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng vốn vay và nợ công. Kỳ hạn phát hành bình quân của danh mục nợ duy trì tương đối dài, lãi suất hợp lý, phù hợp diễn biến thị trường.

Chính phủ đánh giá, việc tái cơ cấu danh mục trái phiếu Chính phủ qua kéo dài kỳ hạn phát hành, duy trì thời gian đáo hạn bình quân ở mức hợp lý đã giúp giảm rủi ro tái cấp vốn (đảo nợ) của ngân sách. Cụ thể, trái phiếu Chính phủ phát hành từ đầu năm đến nay có kỳ hạn 10 năm trở lên; kỳ hạn phát hành bình quân 13,78 năm (tăng 0,73 năm so với cùng kỳ 2021) và thời gian đáo hạn bình quân là 9,13 năm, giảm 0,14 năm so với cuối 2021.

Về hạn chế, báo cáo nêu, giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt yêu cầu, nhất là với vốn ODA, dự kiến đến cuối năm 2022 đạt 65% kế hoạch. Đến tháng 9, một số bộ, ngành, địa phương đề xuất trả kế hoạch vốn năm 2022, gồm 6 bộ, ngành đề xuất trả 1.669 tỷ đồng; 9 địa phương đề nghị trả 9.970 tỷ đồng.

Áp lực tăng vay, điều kiện thị trường vốn quốc tế và trong nước không thuận dẫn đến mặt bằng lãi suất tăng, phản ứng chính sách của các nước cũng gây sức ép giảm giá của đồng Việt Nam ảnh hưởng nghĩa vụ trả nợ, đặc biệt đối với nợ bằng USD, và rủi ro cho việc thực hiện các chỉ tiêu an toàn nợ công, nợ nước ngoài quốc gia, báo cáo nêu rõ.

Thời gian tới, dự kiến tình hình thị trường tài chính - tiền tệ thế giới và trong nước tiếp tục có nhiều biến động, thách thức khó lường. Các yếu tố tác động tới thị trường trái phiếu có thể là việc tiếp tục tăng lãi suất cơ bản để kiểm soát lạm phát của nhiều NHTW các nước; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam triển khai nhiều giải pháp điều hành theo hướng thắt chặt chính sách tiền tệ theo mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá. Bên cạnh đó, nhu cầu vay TPCP rất lớn, tạo áp lực tăng mặt bằng lãi suất phát hành TPCP trong nước.

Bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, Việt Nam cũng đối mặt với không ít rủi ro, thách thức từ bên ngoài như biến động về giá xăng dầu, nguyên vật liệu đầu vào gia tăng áp lực lạm phát trong nước, rủi ro về chuỗi cung ứng, nhu cầu từ các thị trường xuất khẩu lớn suy yếu…

Kế hoạch năm 2023, Chính phủ cho biết dự kiến huy động vay 644.515 tỷ đồng, tăng khoảng 27.000 tỷ đồng so với 2022. Trong đó, vay bù đắp bội chi ngân sách trung ương 430.500 tỷ đồng; vay để trả nợ gốc của ngân sách trung ương 190.515 tỷ đồng; vay về cho vay lại 23.500 tỷ đồng.

Nguồn huy động kết hợp linh hoạt các công cụ như phát hành TPCP; vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài. Trường hợp cần thiết sẽ tính tới vay từ các nguồn tài chính hợp pháp khác hoặc phát hành TPCP trực tiếp cho Ngân hàng Nhà nước.

Với nguồn huy động như trên, dự kiến nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ khoảng 293.405 tỷ đồng, trong đó trả nợ gốc khoảng 190.515 tỷ đồng và trả nợ lãi khoảng 102.890 tỷ đồng. Nghĩa vụ trả nợ vay về cho vay lại khoảng 33.648 tỷ đồng (trả gốc khoảng 25.565 tỷ đồng, trả lãi khoảng 8.083 tỷ đồng).

Dự kiến đến cuối năm 2023, chỉ tiêu trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân sách vẫn trong mức trần 25% Quốc hội phê duyệt. Chính phủ không bảo lãnh mới cho các chương trình, dự án để vay vốn trong nước, nước ngoài. Dự kiến dư nợ bảo lãnh cho doanh nghiệp vay trong nước khoảng 10.073 tỷ đồng, bảo lãnh vay nước ngoài khoảng 116.564 tỷ đồng.

Năm 2023, dự báo nhu cầu vay nước ngoài tự vay tự trả của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng vẫn ở mức cao, dự kiến mức rút vốn ròng trung dài hạn khoảng 7.300 triệu USD, tốc độ tăng dư nợ nước ngoài ngắn hạn khoảng 23% so với cuối năm 2022.

Tăng cường các giải pháp quản lý

Tại báo cáo, Chính phủ cũng nêu một số giải pháp tăng cường quản lý nợ công, nhấn mạnh sẽ hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về nợ công, ngân sách: nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền sửa đổi khuôn khổ pháp lý về ngân sách để tăng cường quản lý, kiểm soát chặt chẽ nghĩa vụ nợ dự phòng của ngân sách.

Tiếp tục rà soát quy định pháp luật về nợ công, ngân sách và đầu tư công nhằm tiếp tục cải thiện thể chế quản lý nợ công, tiệm cận thông lệ quốc tế.

Sử dụng linh hoạt các cơ chế, chính sách, công cụ phù họp, huy động thêm nguồn lực trong và ngoài nước để thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; sử dụng linh hoạt nguồn vốn huy động cho Chương trình và nguồn vốn huy động theo kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm, hằng năm.

Tháo gỡ vướng mắc nhằm thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, áp dụng chính sách tài khoá linh hoạt trong bối cảnh kinh tế còn nhiều yếu tố không chắc chắn. Nghiên cứu điều chỉnh cơ chế, chính sách để bố trí một phần tăng thu ngân sách để trả nợ gốc, qua đó giảm gánh nặng nợ, giảm áp lực trả nợ trực tiếp của Chính phủ trong trung và dài hạn.

Theo Nhịp sống Doanh nghiệp Sao chép

Cùng chuyên mục Ngân hàng

Chiến lược tài chính đến năm 2030: có 1 đến 3 doanh nghiệp Nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới

Theo chiến lược tài chính đến năm 2030, mục tiêu huy động ngân sách giai đoạn 2026-2030 lên 18%, mục tiêu chi đầu tư phát triển đạt khoảng 40% và chi thường xuyên khoảng 51-52% tổng chi ngân sách nhà nước.

Hà Nội “điểm mặt” 341 dự án vốn ngoài ngân sách chậm triển khai Lãi suất tăng gây thêm áp lực lên ngân sách các nước phát triển

Lợi nhuận nhiều ngân hàng tăng 30 - 50 lần trong 10 năm qua: Lộ diện nhà băng bứt tốc nhanh nhất

Thống kê giai đoạn 2015-2025 cho thấy SeABank, MSB và LPBank là những ngân hàng tăng trưởng nhanh nhất hệ thống với lợi nhuận tăng hàng chục lần sau 10 năm, trong khi nhiều ngân hàng tư nhân khác cũng đang thu hẹp đáng kể khoảng cách với nhóm dẫn đầu.

Sau biến cố về lãnh đạo chủ chốt, ACV dự kiến lợi nhuận 2026 giảm 41% so với năm trước VCBS dự báo lợi nhuận quý 2 loạt "đại gia" thép: Hòa Phát tăng trưởng 25%, Hoa Sen và Nam Kim hụt hơi Một ngân hàng được dự báo lợi nhuận tăng gấp đôi trong năm 2026

TPBank Visa FlashBiz: Tối ưu chi phí quản lý cho doanh nghiệp với thẻ 2 trong 1

Quản lý chi phí doanh nghiệp chưa bao giờ là bài toán dễ dàng với các nhà điều hành, đặc biệt khi phải không ngừng gia tăng hiệu quả kinh doanh, cân bằng giữa tăng doanh thu và quản lý chặt chẽ từng hạng mục chi phí quản lý. Sự ra mắt của thẻ đa năng quốc

Hợp tác chiến lược thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện giữa TPBank và Viettel TPBank chính thức trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam chinh phục được chứng chỉ Trải nghiệm khách hàng quốc tế ICXS2019 TPBank tất toán loạt lô trái phiếu phát hành năm 2025

Nới LDR, mở room tín dụng, tăng trần cho vay dài hạn: Ngân hàng Nhà nước đang phát tín hiệu gì?

Từ cuối tháng 5 đến nay, NHNN liên tiếp điều chỉnh nhiều quy định quan trọng liên quan đến hoạt động tín dụng. Các thay đổi không chỉ giúp ngân hàng có thêm dư địa cho vay mà còn tạo điều kiện để dòng vốn chảy mạnh hơn vào các lĩnh vực ưu tiên, dự án trọng điểm và các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Dự báo lợi nhuận quý II ngành ngân hàng: Một nhà băng tăng gấp rưỡi, VietinBank có thể lãi gần 15.000 tỷ Từ 1/7, các ngân hàng được nới trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn lên 40% NHNN nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn: Những ngân hàng nào hưởng lợi nhất?

Maxtopia: Khi Gen Alpha học tài chính bằng trò chơi thay vì những bài giảng khô khan

Trong bộ giải pháp Ngân hàng cho con - VIB Junior Banking dành cho gia đình Việt, Maxtopia là một trong những điểm nhấn đáng chú ý, giúp trẻ tiếp cận kiến thức tài chính thông qua các hoạt động tương tác, nhiệm vụ và cơ chế tích điểm theo phong cách trò chơi.

Thẻ thanh toán VIB Business cho doanh nghiệp: 0% phí đổi ngoại tệ, không giới hạn quy đổi lượt vào lounge Người liên quan lãnh đạo VIB mua bán lượng lớn cổ phiếu

Lãi suất ngân hàng 21/6 tại MB, Agribank, Vietcombank, BIDV, VietinBank, HDBank, Sacombank,...

Khảo sát lãi suất huy động trực tuyến ngày 21/6 cho thấy ACB tiếp tục dẫn đầu thị trường với mức lãi suất 7,3%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. Trong khi đó, nhóm Big4 duy trì mức 6,8%/năm và nhiều ngân hàng khác đang niêm yết từ 6,9-7%/năm cho các khoản tiền gửi trung và dài hạn.

Lãi suất ngân hàng BIDV mới nhất tháng 5/2026: Mức cao nhất là bao nhiêu? Lãi suất ngân hàng VPBank mới nhất tháng 5/2026: Điều chỉnh ở nhiều kỳ hạn, gửi kỳ hạn nào có lãi suất cao nhất?

Dự báo lợi nhuận quý II ngành ngân hàng: Một nhà băng tăng gấp rưỡi, VietinBank có thể lãi gần 15.000 tỷ

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng quý II/2026 được dự báo tiếp tục phân hóa. Trong khi MSB có thể trở thành ngân hàng tăng trưởng nhanh nhất với mức tăng 48%, VietinBank khả năng sẽ dẫn đầu hệ thống về quy mô lợi nhuận với gần 15.000 tỷ đồng trước thuế.

Khối ngoại bán ròng không còn là “ác mộng”: Loạt cổ phiếu vẫn tăng “ầm ầm”, nhiều ngân hàng gây bất ngờ Một cổ phiếu ngân hàng được tự doanh CTCK "gom" đột biến gần 800 tỷ đồng phiên cuối tuần

Ngân hàng trung ương toàn cầu vẫn cảnh giác với lạm phát

Dù thỏa thuận hòa bình tạm thời giữa Mỹ và Iran giúp hạ nhiệt giá dầu, nhiều ngân hàng trung ương lớn vẫn duy trì lập trường thận trọng trước nguy cơ lạm phát kéo dài và biến động địa chính trị.

Fed giữ nguyên lãi suất đối mặt lạm phát và chi phí sinh hoạt Mỹ: Thị trường lao động đủ vững để Fed kiềm chế lạm phát

MB đồng hành cùng doanh nghiệp quân đội thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển bền vững

Tại Hội nghị Doanh nghiệp Quân đội năm 2026 do Bộ Quốc phòng tổ chức tại thành phố Sầm Sơn (Thanh Hóa), Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tiếp tục khẳng định vai trò là đối tác tài chính tin cậy của khối doanh nghiệp quốc phòng, đồng hành cùng các đơn vị trong chuyển đổi số, nâng cao năng lực quản trị và phát triển sản xuất kinh doanh phục vụ nhu cầu quốc phòng.

MB lãi hơn 9.600 tỷ đồng trong quý I, thu nhập bình quân nhân viên gần 47,8 triệu đồng/tháng MB – Ngân hàng top đầu Quy mô dư nợ cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm MB huy động thêm 3.500 tỷ đồng trái phiếu, đẩy mạnh tất toán trước hạn các lô cũ