Thấy gì từ một năm lợi nhuận nhà băng?
Năm đầu tiên của “kỷ nguyên vươn mình” đánh dấu sự dịch chuyển rõ nét trong điều hành vĩ mô, với chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng được sử dụng nhất quán nhằm hỗ trợ tăng trưởng.
Trong bối cảnh đó, ngành ngân hàng là kênh truyền dẫn chính sách quan trọng, ghi nhận tăng trưởng tín dụng ở mức cao nhất trong 10 năm trở lại đây (đạt khoảng 18,58 triệu tỷ đồng, tăng hơn 19% so với năm 2024).
KỶ LỤC SỐ NGÂN HÀNG
LÃI TRÊN 30.000 TỶ
Để duy trì mặt bằng lãi suất thấp hỗ trợ doanh nghiệp, biên lãi ròng (NIM) của nhiều nhà băng tiếp tục chịu áp lực thu hẹp. Đây là sự đánh đổi tất yếu giữa biên lợi nhuận và mục tiêu mở rộng quy mô. Tuy nhiên, dù NIM có phần “mỏng” đi, lợi nhuận của phần lớn các ngân hàng vẫn duy trì đà tăng trưởng ấn tượng. Theo ước tính của Chứng khoán MB (MBS), lợi nhuận toàn ngành năm 2025 dự kiến tăng khoảng 16% so với năm 2024.
Đáng chú ý, nếu như năm 2022, Vietcombank là ngân hàng đầu tiên và duy nhất có lãi trên 30.000 tỷ đồng; thì đến năm 2024, nhà băng này đã không còn “cô đơn” trên đỉnh lợi nhuận, khi có thêm sự góp mặt của VietinBank và BIDV. Bước sang năm 2025, số lượng nhà băng gia nhập "câu lạc bộ" lãi trên 30.000 tỷ đồng đã tăng gấp đôi.
Dẫn dắt lợi nhuận của ngành vẫn là ba thành viên thuộc “Big 4” Vietcombank, VietinBank và BIDV với lợi nhuận trước thuế năm 2025 lần lượt đạt 45.000 tỷ đồng (tăng 9% so với năm 2024), 41.000 tỷ đồng (tăng 29%) và 36.000 tỷ đồng (tăng 13%).
Ngoài ra, có thêm ba ngân hàng tư nhân mới gia nhập nhóm lãi trên 30.000 tỷ đồng là MB, Techcombank và VPBank với lợi nhuận trước thuế đều đạt kỷ lục, tương ứng là hơn 34.200 tỷ đồng (tăng 17% so với năm 2024), hơn 32.500 tỷ đồng (tăng 18%) và hơn 30.600 tỷ đồng (tăng 53%).

Nhìn từ báo cáo tài chính quý IV/2025 của VPBank, có thể thấy lợi nhuận của ngân hàng này tăng trưởng nhờ tổng thu nhập hoạt động (TOI) cải thiện 20%, đạt 74.653 tỷ đồng - dẫn đầu khối ngân hàng tư nhân. Trong đó, thu nhập lãi thuần, chỉ số biểu thị cho hoạt động kinh doanh cốt lõi, đạt 58.662 tỷ đồng, tăng 16%. Đồng thời, lãi từ hoạt động mua bán chứng khoán của nhà băng gấp 4,3 lần năm ngoái, đạt 1.566 tỷ đồng. Trong khi đó, chi phí dự phòng rủi ro các khoản cho vay của nhà băng này lại giảm 9% về gần 25.400 tỷ đồng.
Tương tự, với Techcombank, lợi nhuận tăng trưởng cũng phần lớn nhờ TOI cải thiện, song song với việc kiểm soát chặt chi phí. Cụ thể, trong năm 2025, TOI của ngân hàng cao hơn 14% so với năm trước đó, đạt gần 53.400 tỷ đồng, trong khi chi phí hoạt động chỉ tăng 7%.
Dự kiến "câu lạc bộ" lợi nhuận 30.000 tỷ đồng của ngành ngân hàng có thể chưa dừng lại ở con số 6, khi Agribank, một ngân hàng trong nhóm "Big 4" vẫn chưa công bố kết quả kinh doanh của năm 2025. Một số ngân hàng tư nhân lớn khác như HDBank, ACB hay SHB, cũng đang tiệm cận dần đến mức lợi nhuận trên.
Bên cạnh đó, các nhà băng quy mô nhỏ hơn như LPBank, SeaBank, Nam A Bank, OCB, Viet A Bank, KienlongBank, NCB, ABBank cũng đang tăng tốc trên đường đua lợi nhuận với mức lãi tăng hàng chục đến hàng trăm phần trăm.
NGÂN HÀNG 0 ĐỒNG
BẮT ĐẦU CÓ LÃI
Một điểm nhấn khác trong bức tranh ngành ngân hàng năm 2025 là sự “hồi sinh” của các ngân hàng 0 đồng sau chuyển giao bắt buộc.
Sau gần một thập kỷ “nằm trên bàn mổ”, cuối năm 2024 và đầu năm 2025, Ngân hàng Nhà nước đã hoàn tất chuyển giao bốn ngân hàng yếu kém: Ngân hàng Xây dựng (CBBank) về Vietcombank, Ngân hàng Đại Dương (OceanBank) về MB, Ngân hàng Đông Á (DongA Bank) về HDBank và Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu (GPBank) về VPBank.
Ngay sau chuyển giao, “bộ tứ ngân hàng” yếu kém bước vào giai đoạn tái định hình sâu rộng. Đồng loạt thay tên và chuyển đổi mô hình hoạt động, tất cả đều được định hướng trở thành ngân hàng số. CBBank đổi tên thành VCBNeo, OceanBank đổi tên thành MBV, DongA Bank thành Vikki Bank, GPBank đổi tên thành Ngân hàng Kỷ Nguyên Thịnh Vượng nhưng vẫn giữ nguyên tên viết tắt là GPBank.
Cùng với quá trình chuyển đổi, bức tranh tài chính của bốn ngân hàng từng bị mua lại với giá 0 đồng đang dần có những cải thiện, từ chỗ chìm trong thua lỗ, ba trong số bốn ngân hàng này đã bước qua “điểm hòa vốn”, thậm chí có lãi.
Theo thông tin từ VPBank, sau gần một năm chuyển giao bắt buộc về VPBank và tái cơ cấu toàn diện, GPBank đã ghi nhận lợi nhuận hơn 500 tỷ đồng, hoàn thành mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2025.
Vietcombank cũng cho biết, đến hết 2025, VCBNeo đã có lãi hơn 1.800 tỷ đồng sau khi về chung nhà với “ông lớn” này. Hay Vikki Bank “dưới mái nhà” HDBank cũng đã bắt đầu có lãi trong năm 2025, đánh dấu bước ngoặt quan trọng sau giai đoạn dài tái cơ cấu.
Riêng với MBV, dù chưa công bố con số lợi nhuận cụ thể nhưng các chỉ tiêu hoạt động đã cải thiện rõ rệt sau khi được chuyển giao về MB. Tính đến cuối tháng 9/2025, tổng tài sản của MBV tăng mạnh từ 40.000 tỷ đồng lên 91.500 tỷ đồng; dư nợ tín dụng tăng từ 33.600 tỷ lên 65.300 tỷ đồng; huy động vốn đạt 58.100 tỷ đồng, tăng khoảng 30%.
Như vậy, việc ba trong số bốn nhà băng 0 đồng đều báo lãi trong năm 2025 đã tháo gỡ được một trong những nút thắt quan trọng trong quá trình chuyển giao các ngân hàng yếu kém.
Trước đó, Ngân hàng Nhà nước xác định khó khăn lớn nhất khi xử lý các ngân hàng này là các khoản nợ và lỗ lũy kế lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, như CBBank lỗ lũy kế hơn 31.000 tỷ đồng đến cuối 2019, hay GPBank lỗ lũy kế trung bình 1.000 tỷ đồng mỗi năm.
Hơn thế nữa, việc tiếp nhận các nhà băng yếu kém trên đang được các “ông lớn” ngân hàng hoạch định trở thành đòn bẩy chiến lược giúp mở rộng dư địa tăng trưởng. Trong đó, Vietcombank kỳ vọng việc tiếp nhận CBBank không chỉ giúp mở rộng quy mô, thị phần và phân khúc khách hàng, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện được ưu tiên nới room tín dụng, qua đó hỗ trợ tăng trưởng bền vững.
MB xem việc tiếp nhận OceanBank là bước đi then chốt để hoàn thiện hệ sinh thái tài chính, với kế hoạch bơm khoảng 5.000 tỷ đồng trong 7-8 năm nhằm tái cấu trúc ngân hàng này.
Trong khi đó, VPBank, nhờ nền tảng vốn được củng cố sau khi SMBC trở thành cổ đông chiến lược, tự tin tiếp nhận GPBank với cam kết góp 16.000 tỷ đồng mà không gây áp lực lên bảng cân đối.
HDBank cũng đặt mục tiêu chuyển đổi DongA Bank thành ngân hàng số hiện đại, dự kiến đầu tư 9.000 tỷ đồng để cải thiện năng lực tài chính, mở rộng thị phần và nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua số hóa.
ÁP LỰC NỢ XẤU
VẪN HIỆN HỮU
Trái ngược với gam màu sáng về lợi nhuận, nợ xấu vẫn là bài toán đầy thách thức của ngành ngân hàng trong năm 2025, dù đã có một số cải thiện.
Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA), đến cuối quý III/2025, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống giảm xuống còn 2,01%, nhờ tăng trưởng tín dụng nhanh giúp kéo giảm tỷ trọng nợ xấu, và công tác xử lý nợ cải thiện hiệu quả. Tuy nhiên, tổng giá trị nợ xấu nội bảng vẫn tăng thêm 44.000 tỷ đồng, lên mức 274.000 tỷ đồng, cho thấy rủi ro tín dụng vẫn hiện hữu.
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) đã phục hồi từ mức đáy gần 80% (quý II/2025) lên 84% vào quý III, song vẫn thấp hơn so với cuối năm 2024 và có sự phân hóa rõ giữa các ngân hàng. Có 4 ngân hàng (Vietcombank, VietinBank, Techcombank, Bac A Bank) duy trì LLR trên 100%, trong đó Vietcombank dẫn đầu với tỷ lệ 201,9%, trong khi BIDV đã giảm xuống dưới ngưỡng 100%.
Cũng theo VNBA, rủi ro nổi bật nhất hiện nay là sự gia tăng nhanh của nợ nhóm 2, nợ quá hạn từ 90–180 ngày hoặc có dấu hiệu rủi ro mất vốn. Trong quý 3/2025, nợ nhóm 2 tăng thêm hơn 50.000 tỷ đồng, đảo chiều hoàn toàn so với xu hướng giảm của quý trước. Nguyên nhân xuất phát từ áp lực trả nợ gia tăng do mặt bằng lãi suất huy động tăng; các khoản nợ từng được tái cơ cấu đáo hạn; rủi ro nội tại từ các lĩnh vực như bất động sản, thương mại và xây dựng.
“Sự gia tăng nợ nhóm 2 là chỉ báo cảnh báo sớm, phản ánh rủi ro tín dụng đang tăng trở lại. Nếu không được xử lý kịp thời, một phần đáng kể trong số này có thể chuyển thành nợ xấu trong thời gian tới”, VNBA cho biết.
Thực tế, số liệu từ báo cáo tài chính của một số ngân hàng cũng cho thấy, nợ có khả năng mất vốn tiếp tục có xu hướng tăng. Điển hình như tại Techcombank, đến cuối năm 2025, dù tỷ lệ nợ xấu giảm xuống mức 1,13% (từ mức 1,17% cuối năm 2024) song nợ có khả năng mất vốn tăng đến hơn 2.671 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 81,7% so với đầu năm.
Tại LPBank, nợ xấu đã tăng từ mức 1,57% cuối năm 2024 lên 1,68% vào cuối năm 2025 (tương ứng tăng trên 1.390 tỷ đồng). Trong đó, nợ có khả năng mất vốn tăng 75,6% từ 2.433 tỷ đồng (cuối năm 2024), lên mức 4.255 tỷ đồng (cuối năm 2025).
Với VPBank, tỷ lệ nợ xấu cũng tăng đáng kể lên mức 3,33% từ mức 2,87% cuối năm 2024. Nợ có khả năng mất vốn tăng thêm 3.035 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 50%.
Nợ xấu gia tăng buộc các ngân hàng phải tăng khoản trích lập dự phòng rủi ro cho vay, như Techcombank tăng trích lập lên gần 10.500 tỷ đồng vào cuối năm 2025 (tăng gần 30% so với năm 2024); hay VPBank trích lập dự phòng rủi ro tới hơn 17.400 tỷ (tăng 6,5%); LPBank trích lập gần 4.900 tỷ (tăng 13%).

Theo Chứng khoán MBS, tăng trưởng tín dụng khả quan cùng với việc tích cực trích lập và xử lý nợ xấu là những yếu tố chính giúp chất lượng tài sản toàn ngành cải thiện đáng kể. Những ngân hàng có mức tăng tín dụng tốt như VPBank, Techcombank, MB hay VietinBank có mức cải thiện chất lượng tài sản tốt hơn so với toàn ngành.
Trong năm 2026, MBS nhận định, chất lượng tài sản toàn ngành sẽ không biến động nhiều so với 2025. Áp lực gia tăng nợ xấu sẽ giảm dần nếu tăng trưởng tín dụng khả quan, song cần lưu ý bộ đệm trích lập của các ngân hàng đã vơi đi khá nhiều khi tích cực xử lý nợ tồn đọng trong 2 năm gần nhất. Tỷ lệ bao nợ xấu dự kiến vẫn duy trì trên mức 80% trong năm 2026, nhưng khả năng trên 100% sẽ không quá cao.
Đặc biệt, từ năm 2025, Luật Các tổ chức tín dụng 2025 đã chính thức có hiệu lực, tạo cơ chế xử lý nợ xấu dài hạn thông qua việc luật hóa Nghị quyết 42, đồng thời nâng chuẩn an toàn vốn và quản trị rủi ro, song hành với sự ra đời của Thông tư số 14/2025/TT-NHNN theo hướng tiệm cận Basel III. Đây là những thay đổi pháp lý quan trọng đối với hệ thống ngân hàng, giúp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro của các ngân hàng Việt, hướng tới hệ thống ngân hàng an toàn, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế.