Thời “tiền rẻ” đã qua?
Nhiều tín hiệu cho thấy Việt Nam đang dần bước qua giai đoạn "tiền rẻ" kéo dài từ hậu COVID-19, khi chính sách tiền tệ toàn cầu cũng đang có những điều chỉnh.
Hai năm qua, lãi suất tại Việt Nam duy trì ở mức thấp nhằm hỗ trợ phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng sau đại dịch COVID. Tuy nhiên, những tháng cuối năm 2025, nhiều ngân hàng đã đồng loạt tăng lãi suất huy động. Trong bối cảnh dư địa “tiền rẻ” thu hẹp, có không ít dự báo mặt bằng lãi suất tại Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn tăng nhẹ nhưng kéo dài, tác động rõ nét tới dòng vốn và chiến lược thích ứng của các ngân hàng.
LÃI SUẤT LÀ
ĐẦU CÂU CHUYỆN
Giữa tháng 12/2025, thị trường ghi nhận dấu mốc quan trọng khi cả 4 ngân hàng thương mại Nhà nước (Big 4) chính thức nhập cuộc đua tăng lãi suất huy động khoảng 0,3-0,5%/năm ở nhiều kỳ hạn. Động thái này diễn ra sau khi nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần đã đồng loạt tăng lãi suất tiền gửi, trong bối cảnh sự lệch pha giữa huy động và cho vay ngày càng gia tăng.
Tính đến ngày 24/12, tín dụng tăng trưởng 17,87% so với đầu năm, đạt 18,4 triệu tỷ đồng, trong khi tốc độ tăng huy động vốn chỉ đạt khoảng 14%. Sự chênh lệch này tạo ra sức ép lớn lên thanh khoản hệ thống, đặc biệt vào dịp giáp Tết khi nhu cầu vốn tăng cao theo yếu tố mùa vụ, đồng kéo hệ số LDR (tỷ lệ cho vay trên số vốn huy động) toàn hệ thống lên mức cao kỷ lục - khoảng 110%.
Chia sẻ quan điểm về câu chuyện tăng lãi suất huy động của các ngân hàng, các chuyên gia cho rằng lãi suất tăng ngoài do áp lực vốn cuối năm và nhu cầu tài trợ ngắn hạn mạnh mẽ từ các NHTM, còn phản ánh Việt Nam đang dần bước qua giai đoạn "tiền rẻ" kéo dài từ hậu COVID-19, khi mà chính sách tiền tệ toàn cầu cũng đang có những điều chỉnh.

“Chúng ta không thể kỳ vọng kéo dài giai đoạn lãi suất thấp nhưng cũng không cần lo lắng lãi suất sẽ tăng quá cao để ảnh hưởng đến thị trường tài chính. Nhìn chung, đợt tăng lãi suất này là để căn chỉnh cho hợp lý, điều tiết và làm lành mạnh thị trường”.
Ông Trần Ngọc Báu, Giám đốc điều hành Công ty Cổ phần Dữ liệu và Công nghệ tài chính WiGroup
Theo ông Trần Ngọc Báu, Giám đốc điều hành Công ty Cổ phần Dữ liệu và Công nghệ tài chính WiGroup, châu Âu và Mỹ bắt đầu giảm lãi suất từ cuối năm 2024. Tuy nhiên, chu kỳ giảm này có thể chỉ kéo dài khoảng 2 năm. Dự kiến châu Âu có thể tăng lãi suất trở lại vào năm 2027 và Mỹ cũng sẽ chậm lại đà giảm hoặc tăng lại vào 2026-2027. Điều này tạo áp lực lãi suất tại Việt Nam khó có thể duy trì mức thấp như giai đoạn vừa qua.
Ông Trần Ngọc Báu nhận định khi lãi suất huy động tăng, lãi suất cho vay sẽ phải tăng theo vì biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng hiện nay đang rất mỏng. Dù vậy, theo chuyên gia này, không có cơ sở để lãi suất tăng cao thời gian tới. “Chúng ta không thể kỳ vọng kéo dài giai đoạn lãi suất thấp nhưng cũng không cần lo lắng lãi suất sẽ tăng quá cao để ảnh hưởng đến thị trường tài chính. Nhìn chung, đợt tăng lãi suất này là để căn chỉnh cho hợp lý, điều tiết và làm lành mạnh thị trường”, ông Báu nhìn nhận.
Đồng quan điểm, ông Lê Chí Phúc, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Quản lý quỹ đầu tư SGI (SGI Capital) cho rằng, yếu tố tác động lớn nhất tới thị trường năm 2026 là lãi suất. “Năm 2026, xu hướng lãi suất thế giới sẽ không biến động quá lớn nhưng mặt bằng lãi suất ở Việt Nam mới là vấn đề chúng ta cần lưu ý”.
Ông Phúc phân tích, kinh tế Việt Nam hiện phụ thuộc rất lớn vào tín dụng. Nhìn vào lịch sử, có thể thấy, chu kỳ kinh tế và chu kỳ tín dụng liên quan chặt chẽ với nhau. Hiện nay, tỷ lệ tín dụng/GDP và hệ số LDR của các ngân hàng đều cao kỷ lục, cho thấy cả hệ thống ngân hàng lẫn nền kinh tế đều đã đi đến cuối giai đoạn bùng nổ tín dụng.
Cho nên, câu chuyện đáng quan tâm nhất của năm sau chính là khả năng cung ứng tín dụng cũng như khả năng duy trì mặt bằng lãi suất hay ổn định mặt bằng lãi suất của hệ thống ngân hàng như thế nào. Điều này sẽ quyết định lớn đến vấn đề tăng trưởng kinh tế, thị trường tài chính và cả thị trường bất động sản - vốn đang chiếm phần lớn trong tăng trưởng tín dụng.
“Việt Nam đã trải qua 5 năm vừa rồi là thời kỳ tiền rẻ để kích thích kinh tế. Nhưng chúng ta đã sử dụng hết dư địa đó rồi. Từ 2026 sẽ là một giai đoạn mới và lãi suất sẽ là vấn đề đáng chú ý nhất”, ông Phúc nhấn mạnh.

“Việt Nam đã trải qua 5 năm vừa rồi là thời kỳ tiền rẻ để kích thích kinh tế. Nhưng chúng ta đã sử dụng hết dư địa đó rồi. Từ 2026 sẽ là một giai đoạn mới và lãi suất sẽ là vấn đề đáng chú ý nhất”.
Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Quản lý quỹ đầu tư SGI
SẼ TĂNG BAO NHIÊU
TRONG 2026?
Khi hầu hết các dự báo đều cho rằng lãi suất năm tới sẽ thiết lập một mặt bằng mới, câu hỏi đặt ra, liệu lãi suất sẽ tăng bao nhiêu? Bởi thực tế, lãi suất tiền gửi đã bật tăng từ tháng 10/2025 trên tất cả các kỳ hạn. Tính đến giữa tháng 12/2025, bình quân lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của nhóm NHTM tư nhân đã tăng từ 70 - 100 điểm cơ bản so với đầu năm lên mức 5,82%, nhóm các ngân hàng quốc doanh tăng 50 điểm cơ bản so với đầu năm lên mức 5,2%. Ở kỳ hạn ngắn, lãi suất tăng thêm từ 80 - 120 điểm cơ bản ở rải rác các kỳ hạn.
Trong bối cảnh đó, Chứng khoán MB (MBS) dự báo lãi suất huy động 12 tháng có thể sẽ tiếp tục tăng thêm 50 điểm cơ bản trong năm 2026 do nhiều nguyên nhân.
Thứ nhất là do chênh lệch cho vay và tiền gửi tại các NHTM dự kiến sẽ tiếp tục nới rộng. Theo MBS, từ đầu năm 2025, tín dụng tăng tốc mạnh mẽ, liên tục thiết lập mức cao mới và đạt hơn 18,37 triệu tỷ đồng tính đến ngày 22/12, tương đương tăng 17,65% so với đầu năm.
Trong khi đó, lãi suất cho vay được giữ ở vùng thấp để hỗ trợ nền kinh tế, tăng trưởng huy động lại chậm hơn đáng kể, tạo áp lực lên thanh khoản và buộc các ngân hàng phải điều chỉnh tăng lãi suất huy động vào cuối năm.
Nhu cầu vốn của nền kinh tế được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh trong 5 năm tới, với mục tiêu nâng tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP từ 32% lên 40%. MBS dự báo tăng trưởng tín dụng sẽ duy trì mức 20% trong năm 2026.

Thứ hai, sức ép tăng lãi suất đến từ chênh lệch cấu trúc kỳ hạn giữa huy động và cho vay. Theo MBS, hiện nay tỷ lệ tiền gửi kỳ hạn ngắn (dưới 6 tháng) vẫn đang chiếm tỷ lệ chủ đạo 80% tổng tiền gửi hệ thống, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn cho kế hoạch đầu tư hạ tầng là rất lớn, dẫn đến áp lực thiếu hụt vốn dài hạn trong hệ thống.
Một nguyên nhân nữa xuất phát từ chất lượng tài sản của các ngân hàng chưa cải thiện. Tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ nợ nhóm 2 toàn ngành tại thời điểm cuối quý III/2025 tăng khoảng 2% so với cuối năm 2024. Tỷ lệ bao nợ xấu toàn ngành đạt 84,3%, thấp hơn so với mức 91,4% vào cuối năm 2024.
“Nợ xấu vẫn đang duy trì ở mức cao, trong khi tỷ lệ bao phủ đang giảm cho thấy áp lực trích lập dự phòng của NHTM tiếp tục tăng lên trong tương lai. Đây cũng là một yếu tố khiến lãi suất khó giảm trong thời gian tới”, MBS đánh giá.
Cùng nhận định lãi suất trong năm 2026 sẽ tăng, song Chứng khoán Vietcap cho rằng, áp lực tăng lãi suất huy động vẫn nằm trong tầm kiểm soát khi NHNN duy trì lập trường nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP 10% của Chính phủ trong năm 2026.
Theo Vietcap, trong hai năm qua, NHNN đã sử dụng kênh thị trường mở (OMO) một cách linh hoạt để hỗ trợ thanh khoản hệ thống. Song hành cùng NHNN, Kho bạc Nhà nước đã gia tăng đáng kể lượng tiền gửi tại các ngân hàng quốc doanh để hỗ trợ nguồn vốn cho các ngân hàng này.
Bên cạnh đó, thanh khoản và nguồn vốn của hệ thống cũng sẽ được hỗ trợ bởi các đợt cắt giảm lãi suất tiếp theo của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed); việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công; các ngân hàng đa dạng hóa hơn nữa kênh huy động vốn; và khu vực hộ kinh doanh/buôn bán quay lại gửi tiền vào hệ thống ngân hàng khi thích nghi dần với các quy định thuế và hóa đơn điện tử mới.
PHÉP THỬ VỚI
CÁC NGÂN HÀNG
Theo các chuyên gia, áp lực tăng lãi suất trong năm 2026 vừa là thách thức, vừa là phép thử đối với năng lực vận hành của hệ thống ngân hàng. Khi tiền rẻ không còn là lợi thế, sức mạnh của ngân hàng sẽ không còn nằm ở khả năng chạy đua lãi suất, mà ở năng lực quản trị chi phí vốn, kiểm soát rủi ro và phân bổ tín dụng hiệu quả.
Những ngân hàng với nền tảng khách hàng ổn định, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao và khả năng đa dạng hóa nguồn vốn sẽ có lợi thế rõ rệt trong việc kiềm chế chi phí huy động. Trong khi đó, các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào tiền gửi kỳ hạn dài với lãi suất cao sẽ chịu áp lực lớn hơn khi mặt bằng lãi suất tăng.
Chi phí vốn cao hơn cũng buộc các ngân hàng phải nâng cao chất lượng tăng trưởng tín dụng. Việc mở rộng tín dụng theo “độ rộng” không còn là chiến lược phù hợp. Thay vào đó, tín dụng cần được phân bổ có chọn lọc, hướng vào các lĩnh vực có dòng tiền ổn định, khả năng hấp thụ vốn tốt và gắn với các động lực tăng trưởng thực chất của nền kinh tế. Đây cũng là cách để ngân hàng kiểm soát rủi ro nợ xấu và giảm áp lực trích lập dự phòng trong trung hạn.

Ngoài ra, để hỗ trợ lợi nhuận trước những thách thức chi phí vốn tăng, các ngân hàng cũng sẽ phải tiếp tục kiểm soát chặt chẽ chi phí hoạt động. Thời gian qua, cùng với việc tăng trưởng doanh thu mạnh hơn, các ngân hàng đã và đang đẩy mạnh chuyển dịch từ các phòng giao dịch vật lý sang kênh số, gia tăng ứng dụng công nghệ & AI nhằm nâng cao hiệu suất, nên chỉ số CIR (chỉ số chi phí trên thu nhập) đã giảm đáng kể. Theo dự báo của Vietcap, tổng CIR của các ngân hàng có thể giảm xuống mức dưới 30% trong 2 năm tới.
Tựu trung lại, việc lãi suất dần bước vào một chu kỳ mới cho thấy giai đoạn “tiền rẻ” đang khép lại, nhường chỗ cho một mặt bằng lãi suất cao hơn nhưng mang tính điều chỉnh và lành mạnh. Khi “bệ đỡ” tiền rẻ không còn, tăng trưởng bền vững sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào nội lực của các ngân hàng và sức khỏe thực chất của nền kinh tế.