Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết lịch sử: Cả nước còn 34 tỉnh, thành phố từ hôm nay

Với 461/465 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 96,44% tổng số đại biểu Quốc hội), Quốc hội tán thành với đề án của Chính phủ về việc sắp xếp 52 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 4 thành phố và 48 tỉnh để hình thành 23 đơn vị hành chính cấp tỉnh mới.

Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết lịch sử: Cả nước còn 34 tỉnh, thành phố từ hôm nay

Sáng 12/6, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. Theo đó, Với 461/465 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 96,44% tổng số đại biểu Quốc hội), Quốc hội tán thành với đề án của Chính phủ về việc sắp xếp 52 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 4 thành phố và 48 tỉnh để hình thành 23 đơn vị hành chính cấp tỉnh mới.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày được thông qua.

Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố. Trong đó, có 19 tỉnh và 4 thành phố hình thành sau sắp xếp quy định tại nghị quyết này và 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp là các tỉnh: Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Lai Châu, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Sơn La và thành phố Hà Nội, thành phố Huế..

Các cơ quan theo thẩm quyền khẩn trương thực hiện các công tác chuẩn bị cần thiết bảo đảm để chính quyền địa phương ở các tỉnh, thành phố hình thành sau sắp xếp chính thức hoạt động từ ngày 1/7/2025.

Chính quyền địa phương ở các tỉnh, thành phố trước sắp xếp tiếp tục hoạt động cho đến khi chính quyền địa phương ở tỉnh, thành phố hình thành sau sắp xếp chính thức hoạt động.

Quốc hội yêu cầu Chính phủ, HĐND, UBND tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm tổ chức thi hành nghị quyết này; sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan, tổ chức ở địa phương; hỗ trợ, kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bị tác động, ảnh hưởng của việc thực hiện sắp xếp; bảo đảm an sinh xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

Chính phủ có trách nhiệm tổ chức việc xác định chính xác diện tích tự nhiên, phạm vi ranh giới trên bản đồ hành chính, trên thực địa. Trường hợp sau khi rà soát, đối chiếu trên thực địa mà số liệu về diện tích tự nhiên của đơn vị hành chính khác với số liệu ghi trong nghị quyết này thì Chính phủ tiến hành cập nhật, điều chỉnh và thực hiện công bố công khai các thông tin này bằng hình thức thích hợp mà không phải báo cáo lại Quốc hội.

Bên cạnh đó, Chính phủ, các bộ, ngành ở trung ương có trách nhiệm hướng dẫn, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh, kiện toàn tổ chức bộ máy chính quyền địa phương các cấp để thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Chi tiết diện tích, dân số của 23 tỉnh, thành sau sáp nhập

1. Sáp nhập tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tuyên Quang, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 13.795,6 km² và quy mô dân số 1.731.600 người.

2. Sáp nhập tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lào Cai, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 13.257 km² và quy mô dân số 1.656.500 người.

3. Sáp nhập tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Thái Nguyên, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 8.375,3 km² và quy mô dân số 1.694.500 người.

4. Sáp nhập tỉnh Hòa Bình, tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ để thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Phú Thọ, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ hiện nay (giảm 2 tỉnh) có diện tích tự nhiên 9.361,4 km² và quy mô dân số 3.663.600 người.

5. Sáp nhập tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh (đã được quy hoạch đến năm 2030 trở thành thành phố trực thuộc Trung ương) thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Bắc Ninh, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 4.718,6 km² và quy mô dân số 3.509.100 người.

6. Sáp nhập tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Hưng Yên, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 2.514,8 km² và quy mô dân số 3.208.400 người.

Quảng cáo

7. Sáp nhập tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng thành 1 thành phố trực thuộc Trung ương có tên gọi là thành phố Hải Phòng, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 3.194,7 km² và quy mô dân số 4.102.700 người.

8. Sáp nhập tỉnh Hà Nam, tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh Bình (đã được quy hoạch đến năm 2030, cơ bản đạt tiêu chí thành phố trực thuộc Trung ương) thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Ninh Bình, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình hiện nay (giảm 2 tỉnh) có diện tích tự nhiên 3.942,6 km² và quy mô dân số 3.818.700 người.

9. Sáp nhập tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Trị, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 12.700 km² và quy mô dân số 1.584.000 người.

10. Sáp nhập tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng thành 1 thành phố trực thuộc trung ương có tên gọi là thành phố Đà Nẵng, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 11.859,6 km² và quy mô dân số 2.819.900 người.

11. Sáp nhập tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Ngãi, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 14.832,6 km² và quy mô dân số 1.861.700 người.

12. Sáp nhập tỉnh Gia Lai và tỉnh Bình Định thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Gia Lai, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 21.576,5 km² và quy mô dân số 3.153.300 người.

13. Sáp nhập tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Khánh Hòa (đã được quy hoạch đến năm 2030 trở thành thành phố trực thuộc trung ương) thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Khánh Hòa, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 8555,9 km² và quy mô dân số 1.882.000 người.

14. Sáp nhập tỉnh Đắk Nông, tỉnh Bình Thuận và tỉnh Lâm Đồng thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lâm Đồng, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng hiện nay (giảm 2 tỉnh) có diện tích tự nhiên 24.233,1 km² và quy mô dân số 3.324.400 người.

15. Sáp nhập tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắk Lắk thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đắk Lắk, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 18.096,4 km² và quy mô dân số 2.831.300 người.

16. Sáp nhập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tỉnh Bình Dương và TP.HCM thành 1 thành phố trực thuộc Trung ương có tên gọi là TP.HCM, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại Quận 1, TP.HCM hiện nay (giảm 2 tỉnh), có diện tích tự nhiên 6.772,6 km² và quy mô dân số 13.608.800 người.

17. Sáp nhập tỉnh Bình Phước và tỉnh Đồng Nai thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Nai, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 12.737,2 km² và quy mô dân số 4.427.700 người.

18. Sáp nhập tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tây Ninh, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Tân An, tỉnh Long An hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 8.536,5 km² và quy mô dân số 2.959.000 người.

19. Sáp nhập tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ thành 1 thành phố trực thuộc Trung ương mới có tên gọi là thành phố Cần Thơ, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ hiện nay (giảm 2 tỉnh), có diện tích tự nhiên 6.360,8 km² và quy mô dân số 3.207.000 người.

20. Sáp nhập tỉnh Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Vĩnh Long, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long hiện nay (giảm 2 tỉnh) có diện tích tự nhiên 6.296,2 km² và quy mô dân số 3.367.400 người.

21. Sáp nhập tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Tháp, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 5.938,7 km² và quy mô dân số 3.397.200 người.

22. Sáp nhập tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Cà Mau, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 7.942,4 km² và quy mô dân số 2.140.600 người.

23. Sáp nhập tỉnh Kiên Giang và tỉnh An Giang thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh An Giang, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 9.888,9 km² và quy mô dân số 3.679.200 người.

Theo Nhịp sống thị trường Sao chép

Cùng chuyên mục Tiêu điểm

ADB nâng mạnh dự báo tăng trưởng của kinh tế Việt Nam trong năm 2026 và 2027

Việt Nam tiếp tục được dự báo là nền kinh tế tăng trưởng thuộc hàng cao nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang phát triển trong năm 2026, với mức điều chỉnh tăng mạnh nhất trong khu vực.

ADB cảnh báo rủi ro năng lượng đối với kinh tế châu Á ADB và Việt Nam ký kết gói tài trợ trị giá 42,76 triệu USD

Số hóa củng cố chuỗi cung ứng của Việt Nam

Việt Nam đang củng cố vị thế là một thị trường cung ứng và sản xuất quan trọng trong bối cảnh các doanh nghiệp trên toàn cầu điều chỉnh chiến lược chuỗi cung ứng, đồng thời đầu tư vào công nghệ để nâng cao khả năng ứng phó với những bất định kéo dài.

Việt Nam có thể đóng góp quan trọng vào một chủ nghĩa đa phương hiệu quả hơn Nâng hạng chứng khoán: Cơ hội lớn để Việt Nam nâng chuẩn nền kinh tế

Việt Nam được dự báo tiếp tục dẫn đầu tăng trưởng Đông Nam Á

6 nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á được dự báo tăng trưởng bình quân 4,8% mỗi năm trong thập kỷ tới. Trong bối cảnh triển vọng khu vực ngày càng phân hóa, Việt Nam tiếp tục được đánh giá là nền kinh tế có triển vọng tăng trưởng cao nhất, nhờ vị thế trong chuỗi cung ứng, khả năng thu hút đầu tư và dư địa ứng dụng công nghệ.

Mặt hàng tỷ đô của Việt Nam gặp ‘cơn bão kép’ tại Mỹ: Xuất khẩu tháng 8 giảm gần 55%, nguy cơ chịu ‘thuế chồng thuế’ Bộ Tài chính sắp tổ chức đợt tiếp xúc nhà đầu tư không kèm phát hành trái phiếu quốc tế

Bộ Tài chính yêu cầu đẩy nhanh xử lý tài sản công dôi dư sau sắp xếp

Bộ Tài chính vừa có Công văn số 14684/BTC-QLCS đề nghị các bộ, cơ quan Trung ương và UBND các tỉnh, thành phố đẩy nhanh việc sắp xếp, bố trí, xử lý và khai thác các cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính, bảo đảm hoàn thành trong năm 2026.

Fed thận trọng trước động thái can thiệp thị trường trái phiếu của Bộ Tài chính Bộ Tài chính đề xuất triển khai hợp đồng quyền chọn chỉ số chứng khoán

Mặt hàng tỷ đô của Việt Nam gặp ‘cơn bão kép’ tại Mỹ: Xuất khẩu tháng 8 giảm gần 55%, nguy cơ chịu ‘thuế chồng thuế’

Không chỉ đối mặt chi phí thuế gia tăng, cá tra Việt Nam còn chịu sức ép từ sức mua yếu và xu hướng bảo hộ ngành cá da trơn tại Hoa Kỳ, khiến doanh nghiệp xuất khẩu ngày càng khó duy trì đơn hàng và biên lợi nhuận.

Xuất khẩu thủy sản tăng trưởng mạnh thu về hơn 4 tỷ USD trong 5 tháng Xuất khẩu thủy sản: "Thuế chồng thuế" khi Mỹ áp thuế đối ứng 20%

Đề xuất bỏ làn dừng khẩn cấp trên đường Vành đai 3 trên cao (Hà Nội)

Trước tình trạng đường Vành đai 3 trên cao thường xuyên quá tải, Cục Cảnh sát giao thông đề nghị nghiên cứu tổ chức 3 làn xe chạy mỗi chiều, không bố trí làn dừng khẩn cấp, đồng thời hạ tốc độ khai thác và bảo đảm đồng tốc trên toàn tuyến.

Vận hành thêm 131 camera AI, ngay buổi sáng đầu tiên phát hiện hơn 600 trường hợp vi phạm giao thông Bộ Xây dựng thúc tiến độ loạt dự án hạ tầng giao thông trọng điểm

Kinh tế Việt Nam giữ đà tăng trưởng, áp lực cuối năm gia tăng

Sản xuất công nghiệp, FDI và đầu tư công tiếp tục là những động lực quan trọng của kinh tế Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2026. Tuy nhiên, lạm phát tiến sát mục tiêu, nhập siêu gia tăng và áp lực thanh khoản đặt ra yêu cầu thận trọng hơn trong điều hành những tháng cuối năm.

Bao nhiêu năm nữa kinh tế Việt Nam vượt Thái Lan? Kinh tế Việt Nam: Giữ nhịp tăng trưởng, củng cố nền tảng cho 2027

Khối ngoại mua ròng bất chấp thị trường rung lắc

Nhóm cổ phiếu Gelex và Chứng khoán gặp áp lực rung lắc lớn trong đó nhiều mã đóng cửa với trạng thái giảm sàn. Dù vậy, nhà đầu tư nước ngoài lại mua ròng khá mạnh tay trong phiên đầu tuần.

Chưa rời đường đua, vốn điều lệ của Chứng khoán TCBS (TCX) sớm được nâng lên gần 33.300 tỷ đồng Bách Hoá Xanh tăng tốc: Doanh thu 8 tháng vượt 40.000 tỷ đồng, mở mới hơn 1.000 cửa hàng

Chọn đúng mắt xích để Việt Nam tiến sâu vào chuỗi giá trị bán dẫn

Việt Nam đang có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn và điện tử toàn cầu, song thay vì theo đuổi tất cả các công đoạn, các chuyên gia cho rằng cần lựa chọn những lĩnh vực phù hợp với năng lực hiện có, từ thiết kế vi mạch, đóng gói tiên tiến đến chuỗi cung ứng thiết bị và các linh kiện phục vụ hạ tầng trí tuệ nhân tạo.

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Việt Nam phấn đấu có nhà máy chip bán dẫn đầu tiên vào năm 2026 Viettel khởi động đào tạo kỹ sư, đặt nền móng cho nhà máy bán dẫn đầu tiên của Việt Nam Tổng Bí thư, Thủ tướng Chính phủ dự lễ khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam

Kinh tế Việt Nam: Giữ nhịp tăng trưởng, củng cố nền tảng cho 2027

Sau 8 tháng năm 2026, kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng tích cực, với sản xuất, xuất nhập khẩu, đầu tư, tiêu dùng và FDI cùng cải thiện. Những tháng cuối năm được kỳ vọng tiếp tục có nhiều động lực hỗ trợ, song triển vọng năm 2027 sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào ổn định vĩ mô, năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực.