Hệ thống ngân hàng đang phải đối mặt với những khó khăn về chất lượng tài sản do nợ xấu tăng nhanh sau khi Thông tư 14 kết thúc.
0:00 / 0:00
0:00
Hình minh họa
Hình minh họa

Khi cơ chế giãn nợ xấu dần đi qua...

Dưới tác động sâu sắc thời kỳ hậu đại dịch, khi cả nền kinh tế đang phải đổi mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, thì chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng cũng là một điều đáng lưu ý. Nợ xấu tại nhiều thành viên đã bắt đầu có dấu hiệu tăng khá nhanh, đặc biệt là sau khi Thông tư 14 về cơ cấu lại các khoản nợ đã chính thức kết thúc.

Diễn biến trên thế hiện ngay trong quý mà GDP ghi nhận kỷ lục tăng trưởng sau nhiều năm.

Thống kê số liệu BCTC quý 3/2022 của 27 ngân hàng cho thấy, tính đến ngày 30/9/2022, tổng nợ xấu nội bảng của 27 ngân hàng ở mức gần 129,8 nghìn tỷ đồng, tăng 28,4% so với đầu năm.

Trong đó, đáng chú ý, tổng nợ nhóm 5, tức nợ có khả năng mất vốn tính đến cuối tháng 9 tăng mạnh tới 62,5% so với đầu năm, lên gần 72,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 55,8% tổng nợ xấu, so với tỷ trọng 44% hồi đầu năm.

Tại NCB, tổng nợ xấu nội bảng tính đến cuối tháng 9/2022 tăng gấp 5,3 lần so với đầu năm, lên 6.648 tỷ đồng. Ban lãnh đạo ngân hàng cho biết, trong bối cảnh chung của toàn hệ thống, nợ xấu của NCB có xu hướng tăng mạnh khi ngân hàng chuyển dần các khoản nợ tái cơ cấu về đúng nhóm nợ, đặc biệt là sau khi Thông tư 14/2021/TT-NHNN liên quan đến cơ cấu lại nợ, giữ nguyên nhóm nợ, miễn giảm lãi suất cho khách hàng do dịch COVID-19 đã hết hạn vào ngày 30/6/2022.

Tương tự, nợ xấu tại ngân hàng OCB cũng tăng gấp đôi trong 9 tháng qua, từ 1.349 tỷ đồng hồi đầu năm lên 2.801 tỷ đồng khi kết thúc quý 3/2022.

Không chỉ các ngân hàng trung và nhỏ, nợ xấu cũng có xu hướng tăng mạnh tại nhiều ngân hàng lớn như BIDV (48,6%), Vietcombank (47%) hay ACB (44,9%),…

Nợ xấu đang tăng nhanh

Con số nợ xấu tăng nhanh khiến tỷ lệ nợ xấu/cho vay khách hàng của nhóm tăng mạnh từ 1,87% hồi đầu năm lên 2,36% khi kết thúc tháng 9/2022. Trong đó, có 15/27 thành viên ghi nhận tỷ lệ nợ xấu gia tăng trong thời gian qua.

Ở chiều ngược lại, Sacombank là trường hợp gây nhiều bất ngờ khi sau nhiều năm, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của nhà băng này xuống dưới 1%. Cụ thể, đến cuối tháng 9/2022, tổng nợ xấu nội bảng của ngân hàng chỉ còn 3.791 tỷ đồng, giảm 34% so với hồi đầu năm. Tỷ lệ nợ xấu/cho vay theo đó đã giảm từ 1,47% hồi đầu năm xuống còn 0,9% khi kết thúc quý 3.

Tuy nhiên, cũng lưu ý là hiện Sacombank vẫn còn khoảng trên 20 nghìn tỷ đồng nợ xấu đang "gửi tạm" tại VAMC. Ban lãnh đạo ngân hàng cho biết, ngân hàng vẫn đang tích cực đẩy mạnh xử lý số trái phiếu tại đây.

Khẩu vị ứng xử với nợ xấu khác nhau

Như trên, hệ thống ngân hàng đang phải đối mặt với những khó khăn về chất lượng tài sản do nợ xấu tăng nhanh sau khi Thông tư 14 kết thúc. Những thách thức này có thể phần nào được “hóa giải” nếu ngân hàng có bộ đệm dự phòng lớn, đồng thời, kiểm soát chặt chẽ khi giải ngân vào phân khúc có rủi ro cao.

Tuy nhiên, những con số trong báo cáo quý 3 cho thấy, nguồn lực này đang có sự phân hóa mạnh giữa các nhà băng.

Thống kê tại 27 ngân hàng cho thấy, có 14 thành viên tiếp tục gia tăng tỷ lệ dự phòng bao phủ nợ xấu (LLR) trong 9 tháng qua trong khi 13 thành viên còn lại cắt giảm tỷ lệ này.

Nợ xấu đang tăng nhanh

Dù tỷ lệ LLR giảm khá mạnh so với đầu năm (giảm 19 điểm %), Vietcombank vẫn đang dẫn đầu hệ thống với tỷ lệ này với 402%. Điều này có nghĩa, với mỗi đồng nợ xấu, Vietcombank có tới 4,02 đồng dự phòng.

Với tỷ lệ cao này, lãnh đạo ngân hàng cho biết đã thực hiện luôn việc trích 100% cho các khoản nợ được cơ cấu trong chính sách hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi COVID-19.

Tại VietinBank, tỷ lệ bao phủ nợ xấu đến cuối tháng 9 đã được nâng lên 250%, thay vì mức 180% cuối năm 2021. Tại BIDV, tỷ lệ này hiện đang là 214%, tại MBB là 208%, BacABank là 190%,…

Trong số 27 ngân hàng trong nhóm khảo sát, hiện đã có 10 thành viên có tỷ lệ trích dự phòng bao nợ xấu ở mức trên 100%.

Điều này cũng có nghĩa, lợi nhuận cũng như an toàn của ngân hàng sẽ không bị ảnh hưởng ngay cả trong trường hợp xấu nhất là tất cả nợ xấu trở thành không thu hồi được, vì ngân hàng đã có dự phòng đầy đủ.

Bên cạnh đó, tỷ lệ LLR cao cũng cho phép ngân hàng linh hoạt hơn trong việc giảm dự phòng, hoàn nhập và thúc đẩy lợi nhuận gắn với kết quả xử lý nợ xấu trong các năm tiếp theo mà không làm giảm chất lượng tài sản của ngân hàng.

Tuy nhiên, điều đáng tiếc, là đây không phải là kết quả chung của toàn hệ thống. Thống kê cho thấy, có tới 10/27 thành viên đang sở hữu tỷ lệ LLR thấp hơn 60%. Như tại NCB, tỷ lệ này đến cuối tháng 9/2022 mới chỉ ở mức 14%, tức với mỗi đồng nợ xấu, ngân hàng mới chỉ có 0,14 đồng để dự phòng. Tương tự, tại các thành viên như VietBank, Baovietbank, PGBank hay Saigonbank, con số này cũng chỉ ở mức khiêm tốn trên dưới 50%.

Chênh lệch lớn về tỷ lệ bao phủ nợ xấu cho thấy khẩu vị khác nhau trong ứng xử với nợ xấu của các thành viên. Theo đó, một số ngân hàng lựa chọn trích lập luôn toàn bộ nợ xấu, một số khác lại chọn trích lập rải ra trong 3 năm theo cơ chế cho phép.

Dù vậy, nhìn chung, tỷ lệ LLR của toàn ngành vẫn tương đối cao (tỷ lệ LLR trung bình của ở nhóm khảo sát 27 ngân hàng là 109,9%). Điều này có thể làm giảm thiểu rủi ro hệ thống có liên quan đến chất lượng tài sản của toàn ngành.

Trần Thúy