Đây là những vấn đề được nhà quản lý và chuyên gia đặt ra tại cuộc tọa đàm "Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?" do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ vừa tổ chức.
Xuất khẩu nông thuỷ sản đang chậm lại
Theo ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Hải quan, năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 70 tỷ USD, đóng góp khoảng 20 tỷ USD xuất siêu cho nền kinh tế. Thống kê của ngành Hải quan, từ năm 2021 đến nay, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng bình quân khoảng 10-12%/năm.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vẫn duy trì đà tăng, đạt khoảng 35,88 tỷ USD. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng đã chậm lại, chỉ tăng khoảng 6% so với cùng kỳ năm 2025. Dù vậy, một số mặt hàng vẫn đạt mức tăng trưởng 2 con số như thủy sản tăng 11,4%, rau quả tăng 17,7%, sản phẩm chăn nuôi tăng 34%.
Cơ quan Hải quan, dự báo thời gian tới xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam vẫn được dự báo tăng trưởng, nhưng tốc độ sẽ chậm lại do tăng trưởng toàn cầu chậm, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, biến động tỉ giá và chi phí logistics.
Bên cạnh đó, các rào cản từ thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe hơn, nhất là về tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và giảm phát thải. Điều này thể hiện rõ tại các thị trường xuất khẩu lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số thị trường khác.
Ông Âu Anh Tuấn cho biết, đối với mục tiêu đạt kim ngạch 100 tỷ USD vào năm 2027 là thách thức rất lớn. Nếu năm nay dự kiến đạt khoảng 75 tỷ USD, thì để sang năm đạt 100 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu phải tăng trên 15%. Để đạt được mục tiêu này, cần rất nhiều nỗ lực từ cả Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp.
Các chuyên gia lĩnh vực nông nghiệp cũng đánh giá, để đạt mục tiêu 100 tỷ USD xuất khẩu nông sản là con số rất thách thức và không dễ dàng. Tuy là thách thức, nhưng cũng là mục tiêu để Việt Nam phấn đấu. Do đó, cần có sự phối hợp của các bộ, ngành, đặc biệt là sự chủ động từ phía doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải nhìn nhận đây là thách thức lớn và cùng với Chính phủ thúc đẩy mục tiêu này.
Ngành thuỷ sản khó khăn về lao động và tín dụng
Theo ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký VASEP, từ nay đến năm 2027, sơ bộ có thể thấy khoảng 500 ngày cần đạt mục tiêu. Để đạt được chỉ tiêu 100 tỷ USD, chúng ta phải có mô hình mới, phải có nguồn lực và phải có đầu tư. Phải soát xét tất cả cơ hội, dư địa có thể sàng lọc được, kể cả những nhóm mặt hàng hiện còn đang nhỏ bé cũng cần đưa vào hệ quy chiếu đồng hành với chương trình này, không nên bỏ lĩnh vực nào trong nông nghiệp.
Ông Nguyễn Hoài Nam cho biết, hiện nay, không có mặt hàng nào của ngành nông nghiệp Việt Nam chịu nhiều đạo luật phía Mỹ đưa ra như thủy sản. Chỉ mình con tôm hiện nay đang mang về 4 tỷ USD, riêng thị trường Hoa Kỳ đã khoảng gần 1 tỷ USD.
Từ góc độ ngành hàng thuỷ sản, để được tham gia vào câu chuyện này, ngay từ bây giờ VASEP đang có một gói khoảng 10 nội dung đề xuất.
“Chúng tôi gọi đấy là mở cơ hội, mở dư địa cần giải quyết của Nhà nước, bao gồm 3 mảng: Thị trường, thể chế và thực thi”, ông Nam nói.
Khó khăn nhất đối với ngành thuỷ sản là mô hình mới và đầu tiên nhất là nguyên liệu. Tiếp theo đó là thâm dụng lao động, bởi để làm ra 1,5 triệu container, VASEP đang có mấy trăm nghìn công nhân. Dù đã tối đa hóa về công nghệ nhưng đặc thù ngành vẫn cần lượng lao động nhất định. Năm 2026, các doanh nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long đang thiếu lao động trầm trọng. Một tháng hiện cần 200 container nhưng với tổng máy móc và nhân lực bây giờ làm được 100 container. Như thế con số 100 tỷ xuất khẩu hay 16 tỷ USD riêng cho thủy sản đặt ra cho thời điểm 500 ngày đêm cũng khá đuối.
Khó khăn nữa là về tín dụng. Nguồn vốn bây giờ cho 100 container/tháng khác với nguồn vốn cho 200 container/tháng. “Thế nhưng ở góc độ ngân hàng đánh giá rủi ro, liệu họ có chung tầm nhìn 100 tỷ này trong năm 2027 không, Hay họ vẫn giữ cách quản trị rủi ro hiện nay cho nguồn tín dụng 100 container thôi?”, ông Nam đặt vấn đề.
Cần đưa tiêu chuẩn, chất lượng vào sản xuất
Còn đối với ngành rau quả, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), nêu ra những khó khăn như tập quán canh tác của người nông dân hiện nay vẫn chủ yếu là sản xuất nhỏ và canh tác theo thói quen và tập quán; Năng lực kiểm tra, kiểm định của các đơn vị, cơ quan quản lý nhà nước không đáp ứng được.
Về lợi thế của Việt Nam đó là có thị trường rất lớn, lớn nhất thế giới về nông sản. Đó là thị trường Trung Quốc, ngay bên cạnh. Lợi thế nữa là về logistics. Việt Nam có thể sử dụng nhiều loại hình vận chuyển để đưa hàng hóa sang Trung Quốc: Đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, đó là lợi thế.
Tuy nhiên, theo ông Bình chúng ta cần thay đổi tư duy của người sản xuất, cần hướng đến chất lượng và an toàn thực phẩm hơn là sản lượng.
“Nếu chúng ta không thay đổi tư duy về chất lượng, phải đưa tiêu chuẩn chất lượng và an toàn lên hàng đầu, thì khách hàng nước ngoài cũng như các nước nhập khẩu sẽ từ chối, không nhập khẩu hàng hóa của chúng ta”, ông Bình nhấn mạnh.
Để góp phần tăng trưởng xuất khẩu thì Việt Nam có một số mặt hàng thế mạnh và nhiều tiềm năng như sầu riêng. Hiện nay chúng ta đã có diện tích khoảng 170.000 hecta. Sản lượng của chúng ta năm nay có thể sẽ vượt Thái Lan, lên đến 1,8-2 triệu tấn. Nhưng chất lượng của chúng ta đang có vấn đề.
Tại toạ đàm, các chuyên gia đều đánh giá rằng, việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, chế biến là rất quan trọng để góp phần thành công cho xuất khẩu.
Ông Âu Anh Tuấn cho biết, việc áp dụng khoa học công nghệ cũng như chuyển đổi số đóng vai trò rất quan trọng trong chuỗi sản xuất cũng như xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp. Việc chuyển đổi số này, theo đánh giá của hải quan, không chỉ giúp thông quan nhanh hơn mà còn giúp quản trị hiệu quả hơn. Khi dữ liệu được kết nối đầy đủ giữa cơ quan hải quan trong nước và đối tác quốc tế thì doanh nghiệp sẽ giảm được các chi phí tuân thủ, còn cơ quan quản lý vẫn có đầy đủ dữ liệu để kiểm soát chặt chẽ, minh bạch cũng như phòng chống gian lận và buôn lậu.