Ngày 6/1/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. Văn bản này khẳng định nền tảng của kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động, từ đất đai, tài nguyên, kết cấu hạ tầng đến vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Sau gần 40 năm đổi mới, dù kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo và dẫn dắt, Nghị quyết thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế về tư duy quản lý, thể chế pháp luật chưa đồng bộ và hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ.
Điểm nhấn mang tính đột phá của Nghị quyết nằm ở hệ thống mục tiêu định lượng về quy mô doanh nghiệp. Cụ thể, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và đặc biệt là từ 1 đến 3 doanh nghiệp nhà nước góp mặt trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Tầm nhìn đến năm 2045 – thời điểm kỷ niệm 100 năm thành lập Nước – số lượng doanh nghiệp lọt vào danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất toàn cầu dự kiến tăng lên 5, song hành cùng khoảng 60 doanh nghiệp trong Top 500 khu vực. Để đảm bảo chất lượng tăng trưởng, Nghị quyết đặt ra "chỉ tiêu cứng": 100% doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản trị trên nền tảng số và 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị theo chuẩn mực quốc tế của OECD.
Đối với hệ thống tài chính - huyết mạch của nền kinh tế, Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 phải có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước lọt vào nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực Châu Á xét về tổng tài sản. Ngành ngân hàng sẽ tập trung phát triển 4 ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu về công nghệ và quản trị, đóng vai trò chủ lực, chủ đạo về quy mô thị phần và khả năng điều tiết thị trường.
Các cân đối vĩ mô cũng được ấn định cụ thể cho giai đoạn 2026 – 2030: tỷ lệ huy động ngân sách khoảng 18% GDP, bội chi khoảng 5% GDP và nợ công không quá 60% GDP. Đáng chú ý, cơ cấu chi ngân sách sẽ được tái thiết kế mạnh mẽ với tỷ trọng chi đầu tư phát triển chiếm tới 35-40% tổng chi, trong khi mức dự trữ quốc gia phấn đấu đạt 1% GDP vào năm 2030 và tăng gấp đôi lên 2% GDP vào năm 2045.
Để hiện thực hóa các con số này, Nghị quyết 79-NQ/TW yêu cầu một sự thay đổi mạnh mẽ về quan điểm chỉ đạo. Kinh tế nhà nước phải hoạt động bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác, chấp nhận cạnh tranh lành mạnh và hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường.
Việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ công và thực hiện nhiệm vụ chính trị phải được tách bạch rõ ràng với các hoạt động kinh doanh. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn sẽ đóng vai trò mở đường trong các lĩnh vực then chốt như năng lượng, hạ tầng số, bán dẫn, logistics và tài chính ngân hàng.
Về các giải pháp trọng tâm, Nghị quyết yêu cầu chấm dứt hoàn toàn tình trạng thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chồng chéo, kéo dài không cần thiết gây khó khăn cho doanh nghiệp. Thay vào đó, công tác quản lý sẽ chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số.
Đáng chú ý, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, thiết lập quy trình xem xét độc lập để phân biệt rõ sai sót khách quan với vi phạm pháp luật, từ đó xử lý đúng người, đúng tội.
Đối với cơ cấu vốn và nhân sự, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) sẽ được tái cơ cấu toàn diện theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia. Nguồn lực sẽ được tập trung đầu tư vào các doanh nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao và các lĩnh vực công nghệ lõi, chiến lược.
Nghị quyết cũng mở đường cho việc thí điểm cơ chế đặc thù về thuê, tuyển dụng, bổ nhiệm Tổng giám đốc tại một số doanh nghiệp nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời cho phép doanh nghiệp chủ động hình thành quỹ cổ phiếu thưởng để thu hút nhân sự chất lượng cao, tạo động lực cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường lao động.