Sự thật về việc Việt Nam đang áp thuế quan 90% với hàng hóa Hoa Kỳ?

Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, nhận định "Việt Nam đang áp mức thuế quan lên tới 90% đối với hàng hóa của Hoa Kỳ" dường như là một phép cộng mang tính hình ảnh hơn là con số pháp lý.

Sự thật về việc Việt Nam đang áp thuế quan 90% với hàng hóa Hoa Kỳ?

Theo Chinhphu.vn, TS Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng từ dữ liệu chính thức cho thấy không có mức thuế quan nào của Việt Nam đối với hàng hóa của Hoa Kỳ đạt tới 90%.

Cụ thể, theo Báo cáo về Rào cản Thương mại nước ngoài năm 2024 của Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) - nguồn tài liệu chính thức do chính phía Hoa Kỳ công bố - thì: Mức thuế MFN (tối huệ quốc) trung bình của Việt Nam là 9,4%; đối với hàng nông nghiệp là 17,1%; đối với hàng phi nông nghiệp là 8,1%.

Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ năm 2007 và đã ràng buộc toàn bộ các dòng thuế trong biểu cam kết. Từ góc nhìn này, khó có thể tìm thấy dòng thuế nào chạm đến ngưỡng 90%.

Theo đó, TS Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng "90%" dường như là một phép cộng mang tính hình ảnh hơn là con số pháp lý.

Cụ thể, ông Dũng cho rằng, con số 90% - nếu có ý nghĩa thực tế - dường như được hình thành bằng cách cộng gộp nhiều khoản thuế và chi phí mà một số loại hàng hóa nhập khẩu đặc biệt (như rượu, thực phẩm cao cấp…) phải gánh chịu bao gồm Thuế nhập khẩu (MFN); Thuế tiêu thụ đặc biệt (tính theo giá bán, thường cao hơn giá nhập khẩu); Thuế giá trị gia tăng (VAT) và một số chi phí hành chính liên quan đến kiểm định chất lượng, đăng ký lưu hành, thủ tục hải quan…

Tuy nhiên, từ góc nhìn luật thương mại quốc tế, chỉ thuế nhập khẩu trực tiếp mới được xem là "thuế quan" theo định nghĩa trong WTO và các hiệp định thương mại tự do. Các loại thuế nội địa và chi phí hành chính chỉ được coi là rào cản phi thuế quan và phải được đánh giá trong bối cảnh cụ thể.

Quảng cáo

Hơn nữa, những khoản thuế gián thu như VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng đồng đều cho cả hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước, vì vậy không thể được xem là hành vi bảo hộ hay phân biệt đối xử thương mại.

Ngoài ra, phương pháp gộp cộng các loại thuế và chi phí thành một chỉ số duy nhất như "thuế 90%" không phản ánh đúng cách đo lường mức độ bảo hộ theo các tiêu chuẩn quốc tế. Trong kinh tế học thương mại, người ta sử dụng các khái niệm như mức bảo hộ danh nghĩa (nominal protection rate) và mức bảo hộ hiệu dụng (effective protection rate), nhưng hai khái niệm này cũng được tính toán theo phương pháp thống nhất, có cơ sở lý thuyết rõ ràng, chứ không phải là phép cộng tùy nghi giữa các loại thuế và chi phí.

Do đó, theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, việc sử dụng con số "90%" như một mức thuế quan là không chuẩn xác về mặt khái niệm, không hợp lệ về mặt pháp lý và thiếu thuyết phục về mặt học thuật.

“Việc chính quyền Hoa Kỳ sử dụng con số 90% như một lý lẽ trung tâm để áp thuế 46% đối với hàng hóa từ Việt Nam đặt ra một câu hỏi lớn: Liệu đó có phải là cách tiếp cận phù hợp với tinh thần pháp lý quốc tế và các nguyên tắc của WTO?”, TS Nguyễn Sĩ Dũng đánh giá.

Cũng theo ông Dũng, nếu xu hướng định lượng một cách cảm tính như trên trở nên phổ biến, hệ thống thương mại đa phương có nguy cơ mất đi sự ổn định. Bất kỳ quốc gia nào cũng có thể biện minh cho hành động đơn phương của mình bằng các lập luận không được thẩm định độc lập hoặc không phản ánh đúng bản chất pháp lý của sự việc.

Trong bối cảnh hiện nay, theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã đạt đến cấp độ Đối tác chiến lược toàn diện và cách tiếp cận dựa trên dữ liệu đáng tin cậy, đánh giá khách quan và tinh thần đối thoại là nền tảng để xử lý khác biệt, thay vì sử dụng những lập luận mang tính biểu tượng hay cảm xúc.

“Việc khẳng định Việt Nam đang áp thuế quan 90% đối với hàng hóa Hoa Kỳ - nếu không có minh chứng cụ thể và hợp pháp - là một cách diễn giải thiếu chính xác. Tôi cho rằng những khác biệt thương mại - dù có - vẫn hoàn toàn có thể giải quyết thông qua các cơ chế hợp tác hiện có, với sự tôn trọng lẫn nhau và cam kết cùng hướng tới một trật tự thương mại ổn định, công bằng và dựa trên luật lệ”, TS Nguyễn Sĩ Dũng nêu quan điểm.

Theo Nhịp sống thị trường Sao chép

Cùng chuyên mục Tiêu điểm

Cục Thống kê chỉ rõ nền tảng để kinh tế Việt Nam tăng tốc từ năm 2026

Theo Cục Thống kê, ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh đầu tư hiệu quả, cải cách thể chế và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là những điều kiện tiên quyết để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong trung và dài hạn.

Quốc hội chốt mục tiêu GDP 2026 tăng từ 10% 10 điểm nhấn kinh tế nổi bật năm 2025: GDP tăng trên 8%, thị trường tài chính thăng hạng

Vốn FDI thực hiện năm 2025 cao nhất 5 năm qua, đạt hơn 27,6 tỷ USD

Báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, tính đến ngày 31/12/2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam đạt 38,42 tỷ USD, tăng nhẹ 0,5% so với năm trước. Đáng chú ý, dòng vốn thực hiện ước đạt 27,62 tỷ USD, thiết lập mức cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cũng ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng.

Điều gì thu hút vốn FDI vào Việt Nam cao nhất 5 năm qua? Vốn FDI thực hiện 11 tháng năm 2025 đạt mức kỷ lục trong 5 năm

“Điểm danh” những địa phương có đóng góp lớn vào tăng trưởng của cả nước

Một số địa phương có tốc độ tăng trưởng khá và cao, tiếp tục giữ vai trò động lực, đóng góp lớn vào tăng trưởng chung của cả nước nhưng vẫn còn những địa phương tăng trưởng thấp...

Năm 2026: FDI và vốn nội - thế song hành của chu kỳ tăng trưởng mới Kinh tế Việt Nam 2026: Tăng trưởng cao và phép thử về nền tảng, thực thi

Bất động sản 2026: “Điểm rơi” tăng trưởng trong chu kỳ mới

2025 là năm bất động sản “lấy lại nhịp thở”. Dù thị trường chưa ấm đều nhưng đã đủ nền tảng để tái thiết niềm tin và đặt nền móng cho chu kỳ tăng trưởng mới.

Hoàng Anh Gia Lai muốn bán nốt 91 triệu cổ phiếu HNG cuối cùng, chính thức chia tay sau 15 năm Một "ông lớn" lên kế hoạch kinh doanh 2026, mục tiêu mỗi ngày "bỏ túi" hơn 48 tỷ đồng

Kinh tế Việt Nam 2026: Tăng trưởng cao và phép thử về nền tảng, thực thi

Năm 2025 khép lại với bức tranh kinh tế Việt Nam tương đối ổn định trong bối cảnh nhiều bất định toàn cầu. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, thách thức cốt lõi của giai đoạn tới không nằm ở con số tăng trưởng, mà ở nền tảng tạo ra tăng trưởng và năng lực thực thi chính sách khi Việt Nam bước vào năm 2026 với những mục tiêu cao hơn.

ADB: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 đạt 6,7% Kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn củng cố năng lực tự chủ

Thường trực Chính phủ có chỉ đạo mới về đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 03/TB-VPCP ngày 04/01/2026 kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp về tình hình triển khai các tuyến đường sắt và các quy trình, quy định, quy chuẩn liên quan đến các dự án đường sắt.

Vingroup rút đăng ký đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam Bộ Xây dựng cập nhật thông tin về dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Dự án nhà máy điện 178.000 tỷ đồng của Vingroup – VinEnergo tại Hải Phòng có diễn biến mới

UBND TP. Hải Phòng đề nghị Bộ Xây dựng bổ sung quy hoạch bến cảng LNG tại Nam Đồ Sơn để phục vụ Nhà máy Nhiệt điện LNG Hải Phòng công suất 4.800 MW của liên danh Vingroup - VinEnergo.

Vingroup rút đăng ký đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam Vingroup và Thủ đô Congo đẩy mạnh hợp tác toàn diện trong lĩnh vực giao thông xanh

Một lĩnh vực then chốt được dự báo đạt quy mô kỷ lục 8,51 triệu tỷ đồng trong 5 năm tới

VNDirect cho rằng Việt Nam đang tiến vào chu kỳ phát triển hạ tầng lớn nhất từ trước đến nay, khi kế hoạch đầu tư trung hạn 2020–2025 dần khép lại và chuẩn bị bước sang giai đoạn 2026–2030.

Năm 2026: FDI và vốn nội - thế song hành của chu kỳ tăng trưởng mới Nhóm ngành nào được dự báo có tăng trưởng lợi nhuận vượt trội trong quý 4/2025?