Quý I/2026: Kim ngạch xuất khẩu tăng cao nhất trong 5 năm, nhập siêu phát tín hiệu đón sóng đầu tư mới

Thông tin từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính), quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng vọt 19,1%, xác lập mức cao nhất trong 5 năm qua. Trong bối cảnh đó, kim ngạch nhập khẩu quý I/2026 tăng 27,0% được cho là phản ánh sự chủ động thích ứng của doanh nghiệp trước những biến động của kinh tế toàn cầu.

xuat-nhap-khau-hang-hoa-quy-i-nam-2026.png
Xuất, nhập khẩu hàng hóa quý I năm 2026. Nguồn: Cục Thống kê.

Theo Cục Thống kê, năm 2026 là năm đầu tiên Việt Nam triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu tăng trưởng bình quân từ 10% trở lên. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro do xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động giá năng lượng và xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, hoạt động xuất, nhập khẩu tiếp tục giữ vai trò là một trong những động lực quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế.

Khả năng thích ứng tốt của doanh nghiệp Việt Nam

Trong tháng 3, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 93,55 tỷ USD, tăng 39,2% so với tháng trước và tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 249,5 tỷ USD, tăng 23,0% so với cùng kỳ năm trước, cao nhất kể từ năm 2022 , trong đó xuất khẩu tăng 19,1%; nhập khẩu tăng 27,0%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 3,64 tỷ USD.

Trong quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 122,93 tỷ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao nhất trong 5 năm gần đây trong bối cảnh thương mại toàn cầu phục hồi chậm, cho thấy Việt Nam tiếp tục tận dụng tốt xu hướng dịch chuyển đầu tư và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao.

kim-ngach-xk-quy-i.png
Nguồn: Cục Thống kê.

Đặc biệt, riêng tháng 3/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 46,4 tỷ USD, tăng 40,3% so với tháng trước và tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong các năm từ 2022 trở lại đây , cho thấy hoạt động xuất khẩu vẫn duy trì nhịp tăng trưởng tích cực ngay cả trong bối cảnh xung đột quân sự, xu hướng bảo hộ thương mại và thuế quan trên thế giới gia tăng.

Kết quả này cho thấy khả năng thích ứng tốt của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh khó khăn của thương mại toàn cầu. Trong ngắn hạn, nhu cầu tại các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, EU vẫn duy trì ổn định; xuất khẩu sang Trung Quốc phục hồi tích cực; đồng thời nhiều đơn hàng trong quý I/2026 được thực hiện trên cơ sở các hợp đồng đã ký từ trước nên chưa chịu tác động ngay của xung đột quân sự. Bên cạnh đó, yếu tố giá hàng hóa cơ bản tăng góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu.

Tuy nhiên, phân tích theo khu vực kinh tế cho thấy có sự chênh lệch rất lớn giữa khu vực có vốn FDI và khu vực kinh tế trong nước. Khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 98,46 tỷ USD, tăng 33,3% và chiếm tới 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ngược lại, khu vực kinh tế trong nước chỉ đạt 24,47 tỷ USD, giảm 16,6% và tỷ trọng thu hẹp còn 19,9% (Những năm trước khu vực kinh tế trong nước thường chiếm tỷ trọng trên 25,0%).

Kim ngạch của nhóm hàng công nghiệp chế biến (chiếm tỷ trọng 89,9% tổng kim ngạch xuất khẩu) tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng dẫn dắt tăng trưởng như điện tử, máy tính và linh kiện đạt 30,7 tỷ USD, tăng 45,5%; điện thoại và linh kiện đạt 16,7 tỷ USD, tăng 19,3%; máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt 15,0 tỷ USD, tăng 21,2%. Đây là những mặt hàng nằm trong chuỗi sản xuất toàn cầu do các tập đoàn FDI dẫn dắt.

Trong khi đó, các mặt hàng truyền thống của khu vực trong nước như dệt may, giày dép chỉ tăng nhẹ (dệt may tăng 1,9%; giày, dép tăng 0,8%); nhóm nông sản tăng, giảm đan xen, phản ánh tính dễ tổn thương trước biến động thị trường và giá cả quốc tế. Sự tương phản này cho thấy khu vực FDI thường có kim ngạch xuất khẩu lớn, tăng trưởng nhanh vì tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, có công nghệ, quản trị và thị trường sẵn có. Ngược lại, khu vực trong nước xuất khẩu yếu hơn cho thấy doanh nghiệp nội địa còn hạn chế về năng lực cạnh tranh, công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế.

Nhập siêu mang tính chất ngắn hạn

Ở chiều nhập khẩu, kim ngạch quý I/2026 đạt 126,57 tỷ USD, tăng 27,0% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng xuất khẩu. Đáng chú ý, 93,9% kim ngạch nhập khẩu là tư liệu sản xuất, trong đó nhóm máy móc, thiết bị và phụ tùng chiếm 55,3%. Điều này phản ánh chu kỳ mở rộng đầu tư, sản xuất đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt trong khu vực FDI khi kim ngạch nhập khẩu của khu vực này tăng tới 45,3%. Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước giảm 4,3%, cho thấy một bộ phận doanh nghiệp trong nước còn gặp khó khăn.

kim-ngach-nhap-khau-quy-i.png
Nguồn: Cục Thống kê.

Hệ quả trực tiếp của diễn biến này là cán cân thương mại hàng hóa quý I/2026 nhập siêu 3,64 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 3,57 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 10,73 tỷ USD, khu vực FDI xuất siêu 7,09 tỷ USD.

Quảng cáo
kim-ngach-xuat-nhap-khau-quy-i-cac-nam.png
Kim ngạch xuất, nhập khẩu quý I các năm (Tỷ USD; %). Nguồn: Cục Thống kê.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, việc chuyển sang nhập siêu phản ánh nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, đồng thời cho thấy doanh nghiệp chủ động tăng dự trữ đầu vào để phòng ngừa rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động giá năng lượng. Như vậy, nhập siêu trong giai đoạn này mang tính chất ngắn hạn, gắn với chu kỳ sản xuất và yếu tố giá, đồng thời phản ánh sự chủ động thích ứng của doanh nghiệp trước những biến động của kinh tế toàn cầu, chưa hẳn là dấu hiệu bất thường, tiêu cực.

Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa quý I/2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 39,0 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 50,1 tỷ USD. Trong quý I/2026, xuất siêu sang Hoa Kỳ đạt 33,9 tỷ USD tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU 10,6 tỷ USD, tăng 6,6%; xuất siêu sang Nhật Bản 0,4 tỷ USD, giảm 28,4%; nhập siêu từ Trung Quốc 33,3 tỷ USD, tăng 34,4%; nhập siêu từ Hàn Quốc 10,6 tỷ USD, tăng 48,7%; nhập siêu từ ASEAN 5,0 tỷ USD, tăng 31,3%.

tt-xnk-hang-hoa.png
Nguồn: Cục Thống kê.

Thách thức và các nhóm giải pháp trọng tâm

Cục Thống kê nhận định, kết quả hoạt động ngoại thương quý I/2026 cho thấy bức tranh tăng trưởng cao về quy mô, song đồng thời cũng bộc lộ những vấn đề mang tính cơ cấu, phản ánh rõ nét sự phụ thuộc ngày càng lớn vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), sự suy giảm vai trò của khu vực kinh tế trong nước và xu hướng nhập siêu quay trở lại sau nhiều năm duy trì xuất siêu. Những diễn biến này đòi hỏi phải nhìn nhận hoạt động thương mại quốc tế không chỉ ở góc độ kim ngạch mà còn ở góc độ chất lượng tăng trưởng và tính bền vững vĩ mô.

Tình trạng khu vực kinh tế trong nước tăng trưởng âm cả về xuất khẩu lẫn nhập khẩu là dấu hiệu cần quan tâm. Nếu xu hướng này kéo dài, khoảng cách giữa khu vực FDI và khu vực trong nước sẽ ngày càng nới rộng, làm suy giảm tính tự chủ của nền kinh tế trong hoạt động thương mại quốc tế.

Ở tầm vĩ mô, nhập siêu quay trở lại tạo áp lực lên cán cân thanh toán, tỷ giá và dự trữ ngoại hối. Mức độ phụ thuộc lớn vào nhập khẩu tư liệu sản xuất khiến nền kinh tế nhạy cảm với biến động giá năng lượng, xung đột địa chính trị và thay đổi chính sách của các đối tác thương mại lớn. Đồng thời, khi phần lớn giá trị gia tăng trong xuất khẩu nằm ở khu vực FDI, tác động lan tỏa đến thu nhập, việc làm và tích lũy vốn của khu vực trong nước bị hạn chế, làm giảm hiệu quả thực chất của tăng trưởng ngoại thương đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.

Trong bối cảnh các tổ chức quốc tế dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 tích cực hơn và làn sóng đầu tư vào công nghệ, sản xuất tiếp tục gia tăng, triển vọng xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2026 vẫn khả quan. Xuất khẩu tiếp tục xu hướng tăng trưởng tốt nhờ tăng trưởng của các ngành điện tử, máy tính, thiết bị, phù hợp xu hướng dịch chuyển đầu tư công nghệ toàn cầu. Nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng mạnh cho thấy chu kỳ mở rộng sản xuất đang diễn ra.

Tuy nhiên, hoạt động xuất, nhập khẩu chỉ thực sự trở thành động lực bền vững cho tăng trưởng khi trọng tâm chính sách không chỉ là thúc đẩy tăng kim ngạch mà phải nâng cao chất lượng tham gia của khu vực kinh tế trong nước. Điều này đòi hỏi phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng của FDI, đa dạng hóa nguồn cung nguyên vật liệu, tận dụng hiệu quả các FTA thế hệ mới và cải thiện mạnh mẽ môi trường logistics, thương mại.

Trong đó, cần tập trung vào các nhóm giải pháp trọng tâm:

Một là, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng FDI. Phát triển công nghiệp hỗ trợ cho điện tử, cơ khí chính xác, linh kiện. Xây dựng chính sách tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng.

Hai là, giảm phụ thuộc nhập khẩu từ một số thị trường, đa dạng hóa nguồn cung nguyên vật liệu, linh kiện.

Ba là, tận dụng tối đa các FTA thế hệ mới, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng quy tắc xuất xứ, mở rộng thị trường EU, CPTPP.

Bốn là, giảm chi phí logistics và thủ tục hành chính, số hóa hải quan, rút ngắn thời gian thông quan, đẩy mạnh phát triển hạ tầng cảng biển, kho bãi, vận tải đa phương thức.

Năm là, thúc đẩy xuất khẩu nhóm nông sản, thực phẩm chế biến, chuyển từ xuất thô sang chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc đáp ứng tiêu chuẩn cao.

Kết quả hoạt động xuất, nhập khẩu quý I/2026 cho thấy một bức tranh ngoại thương tăng trưởng cao về quy mô nhưng đặt ra nhiều thách thức về chất lượng và tính bền vững. Nếu không sớm khắc phục tình trạng suy giảm vai trò của khu vực kinh tế trong nước và xu hướng nhập siêu gia tăng, những rủi ro đối với thương mại quốc tế và toàn bộ nền kinh tế sẽ ngày càng rõ nét trong các quý tiếp theo, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Việt Nam đã đặt ra cho giai đoạn phát triển mới.

Theo thitruongtaichinhtiente.vn Sao chép

Cùng chuyên mục Tiêu điểm

Bộ Công Thương tăng cường kiểm tra hoạt động kinh doanh xăng dầu trước áp lực nguồn cung

Sau yêu cầu tăng cường kiểm tra hoạt động kinh doanh xăng dầu, một số doanh nghiệp tại Hà Nội và TP.HCM phản ánh khó tiếp cận nguồn hàng, nhất là dầu diesel. Diễn biến này đặt ra yêu cầu rà soát chặt chẽ từng khâu cung ứng, tránh để phát sinh gián đoạn cục bộ trên thị trường.

Giá xăng dầu giảm sâu, bao giờ giá hàng hóa, dịch vụ mới giảm theo? Đề xuất cho doanh nghiệp tự quyết giá xăng dầu

Thông tin mới nhất từ Bộ Ngoại giao về việc Hoa Kỳ áp thuế lên đến 12,5% cho hàng hóa nhập khẩu, trong đó có Việt Nam

Mới đây, người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng đã trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) áp mức thuế mới 12,5% đối với hàng hóa của tất cả các nền kinh tế “bị điều tra” theo Mục 301.

Bộ Ngoại giao nói gì về việc Mỹ áp thuế lên tới hơn 3.500% với pin và tấm pin mặt trời từ 4 nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam? Bộ Ngoại giao cập nhật tình hình đàm phán thương mại Việt - Mỹ về thuế đối ứng

Đề xuất cho doanh nghiệp tự quyết giá xăng dầu

Bộ Công Thương đề xuất chuyển mạnh hoạt động điều hành giá xăng, doanh nghiệp được chủ động quyết định giá bán, Nhà nước quản lý thông qua công cụ kê khai, thanh tra và giám sát.

Bộ Công Thương thông tin về mức độ tương thích của xe máy, ô tô với xăng E10 Bộ Công Thương: Không để lợi dụng giá xăng dầu giảm để "neo" giá hàng hóa bất hợp lý

Chuyên gia HSBC ví kinh tế Việt Nam như "Đường lên đỉnh Olympia", chặng khó còn ở phía trước

Theo chuyên gia HSBC, kinh tế Việt Nam đã vượt qua nửa đầu năm 2026 với đà tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, nửa cuối năm sẽ là giai đoạn bản lề khi áp lực lạm phát, tỷ giá và lãi suất ngày càng lớn, đòi hỏi sự cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn định vĩ mô.

Lợi nhuận thấp nhất 4 năm, HSBC Việt Nam vẫn trả thu nhập nhân viên gần 1 tỷ đồng mỗi người Chuyên gia HSBC: Động lực tăng trưởng của Việt Nam vẫn hiện hữu giữa biến động kinh tế toàn cầu HSBC hạ dự báo giá vàng trung bình của năm 2026 và 2027

Phó Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước: Giá trị của tài sản mã hóa phải bắt nguồn từ tài sản có thật

Nhấn mạnh nguyên tắc công nghệ không làm thay đổi bản chất pháp lý của tài sản, Phó Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) Bùi Hoàng Hải cho biết, cơ quan quản lý sẽ phối hợp liên ngành chặt chẽ để giám sát thị trường tài sản mã hóa dựa trên dòng tiền minh bạch và hạ tầng an toàn, kiên quyết phòng ngừa rủi ro cho nhà đầu tư từ sớm, từ xa.

Phó Chủ tịch UBCKNN: Tài sản mã hóa đang dần trở thành trụ cột mới của kinh tế số Tiền mã hóa lao dốc dưới sức ép từ địa chính trị và AI

Việt Nam đón thời cơ huy động vốn xuyên biên giới từ tài sản mã hoá

Tận dụng thời cơ hội nhập, Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện lộ trình quản lý, giám sát tài sản mã hoá. Đây là bước đi chiến lược giúp nâng cao năng lực quản trị rủi ro quốc gia, biến tài sản số thành nguồn vốn bổ sung quan trọng đưa Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030.

TCEX được chấp thuận vòng 1 quy trình cấp phép sàn giao dịch tài sản mã hóa Giao dịch tài sản mã hóa trái quy định bị phạt tới 200 triệu đồng

Thủ tướng Chính phủ: Khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp sẽ được xử lý đến tận cùng

Chủ trì Hội nghị Thường trực Chính phủ với doanh nghiệp sáng 18/7, Thủ tướng Lê Minh Hưng cam kết tất cả các vấn đề vướng mắc, khó khăn thực tiễn mà doanh nghiệp phản ánh đúng thì sẽ được quan tâm, theo dõi chỉ đạo xử lý đến tận cùng.

Thủ tướng Chính phủ có chỉ đạo “nóng” với TP. Hồ Chí Minh Thủ tướng Chính phủ có chỉ đạo “nóng” với loạt dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia

3 khu nhà giàu tại Hà Nội nộp 28.000 tiền sử dụng đất

Hà Nội thu gần 54.000 tỷ đồng tiền sử dụng đất nửa đầu năm 2026. Trong đó, 3 dự án bất động sản lớn đã đóng góp gần 28.000 tỷ đồng tiền sử dụng đất, tương đương hơn một nửa tổng số thu từ khoản này của Hà Nội.

91% khách mua sẵn sàng chi thêm tiền cho bất động sản gần hạ tầng trọng điểm Dự án của FLC tại Quảng Trị nhận tin vui