Nhật Bản tìm hướng giải quyết tình trạng thiếu hụt gạo

Một chuyên gia về nông nghiệp của Nhật Bản, cho rằng tình trạng thiếu hụt gạo ở nước này trong mùa Hè năm 2024 là hậu quả từ các chính sách của chính phủ.

194549-nhat-ban-gia-gao-tai-thu-do-tokyo-tang-cao-ky-luc.jpg
Gạo được trữ tại một nhà kho ở Fukushima, Nhật Bản. Ảnh: Kyodo/TTXVN

Ông Kazuhito Yamashita, một chuyên gia về nông nghiệp của Nhật Bản, cho rằng tình trạng thiếu hụt gạo ở nước này trong mùa Hè năm 2024 là hậu quả từ các chính sách của chính phủ, nhằm giữ giá gạo ở mức cao thông qua việc giảm diện tích canh tác.

Nghịch lý thị trường nông nghiệp

Tháng 8/2024, gạo biến mất khỏi các kệ hàng siêu thị ở Nhật Bản khiến giá tăng cao, nhưng Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản (MAFF) nước này lại không thừa nhận sự thiếu hụt. Mùa Hè nóng bức năm 2023 đã tác động tiêu cực đến sản lượng gạo của năm ngoái. Bên cạnh đó, cũng có giả thuyết cho rằng nhu cầu tiêu thụ gạo tăng do số lượng khách quốc tế đến nhiều, hoặc do giá gạo tương đối thấp so với giá bánh mỳ. Ngoài ra, lo ngại về một trận động đất ở Nankai Trough cũng là lý do khiến người dân tăng cường tích trữ gạo.

Tuy nhiên, những yếu tố này chỉ tác động một phần nhỏ đến cán cân cung cầu của gạo. Những yếu tố chính tác động đến thị trường gạo là những thay đổi nhỏ trong sản xuất và tiêu thụ, do đặc thù của thị trường thực phẩm.

Nhu cầu sử dụng thực phẩm của người dân bị giới hạn bởi khả năng tiêu thụ, vì vậy khi sản xuất tăng thì giá cần phải giảm để khuyến khích tiêu thụ. Do đó, nghịch lý là mùa màng bội thu có thể dẫn đến thu nhập thấp cho nông dân. Ngược lại, mùa màng thất bát dẫn đến giá cả tăng vọt.

Quảng cáo

Đồng thời, dù nhu cầu tăng, việc tăng sản xuất nông nghiệp cũng không thể diễn ra nhanh chóng. Ví dụ, nếu nhu cầu tăng vào tháng 6, phải đến tháng 9 năm sau sản xuất mới có thể tăng kịp để đáp ứng. Đây là lý do vì sao những thay đổi nhỏ trong sản xuất và tiêu thụ có thể dẫn đến sự biến động giá cả mạnh mẽ.

Giải pháp là gì?

Việc giảm cung cấp và tăng giá gạo là có lợi cho cả Liên hiệp Nông nghiệp Nhật Bản (JA) cũng như MAFF. Lo ngại về tình trạng dư thừa có thể khiến giá giảm, họ tìm cách giữ cho nguồn cung ở mức thấp. Năm nay, sự gia tăng nhẹ về nhu cầu và giảm cung đã khiến giá gạo tăng vọt.

Một thực tế quan trọng đã bị bỏ qua. Trong những năm qua, JA và MAFF vẫn tiếp tục thúc đẩy chính sách giảm diện tích trồng gạo, với giả thuyết rằng nhu cầu gạo đang giảm 100.000 tấn mỗi năm. Kết quả là, sản lượng gạo năm ngoái giảm 90.000 tấn so với mức 6,7 triệu tấn của năm trước đó. Ngoài tác động của những ngày Hè nóng bức năm 2024, cần lưu ý rằng năm ngoái Nhật Bản cũng chứng kiến nguồn cung gạo giảm do chính sách thu hẹp diện tích gieo trồng.

Nhìn lại năm 1993, có thể thấy tình trạng thiếu hụt gạo lớn cũng có nguyên nhân cơ bản xuất phát từ việc giảm diện tích gieo trồng. Do đó, nếu Nhật Bản dừng chính sách giảm sản xuất này, họ có thể giải quyết tình huống thiếu hụt gạo như năm nay bằng cách giảm nhẹ lượng xuất khẩu và không gây thiếu hụt trong nước.

Câu hỏi đặt ra là vì sao MAFF không hành động sớm hơn? JA và MAFF đã yêu cầu nông dân giảm sản xuất trong nhiều năm qua. Sự tăng giá gạo rõ ràng là kết quả của nỗ lực từ JA và MAFF. Việc sử dụng gạo dự trữ để giải quyết tình trạng thiếu hụt sẽ đưa gạo trở lại các cửa hàng và làm giảm giá. Tuy nhiên, gạo này chủ yếu được tiêu thụ từ tháng 10 năm nay cho đến tháng 9 năm sau. Nếu bắt đầu tiêu thụ sớm, tình trạng thiếu hụt sẽ lại xảy ra vào tháng 8 năm sau.

Sản lượng gạo toàn cầu hiện nay cao gấp 3,5 lần so với năm 1961, nhưng Nhật Bản đã giảm sản xuất 40%, trong khi vẫn cấp trợ cấp cho nông dân. Điều này có nghĩa là sự tự cung cấp thực phẩm giảm đi. Nếu Nhật Bản bỏ chính sách giảm diện tích trồng, họ có thể sản xuất 17 triệu tấn gạo mỗi năm, với 7 triệu tấn tiêu thụ trong nước và 10 triệu tấn xuất khẩu. Điều này sẽ để lại lượng gạo dư thừa đủ để giải quyết những thay đổi trong cung cầu nội địa.

Tuy nhiên, rất khó để từ bỏ chính sách giảm diện tích trồng gạo, vì chính sách này là nền tảng cho sự thịnh vượng của JA. Giá gạo cao đã giúp duy trì cuộc sống của những người nông dân trồng trọt quy mô nhỏ có thu nhập kép. Họ gửi gắm nguồn thu nhập từ công việc chính — cao gấp bốn lần so với thu nhập từ nông nghiệp - vào ngân hàng JA. Nếu mất hứng thú với lĩnh vực nông nghiệp, họ thậm chí sẽ gửi những khoản tiền lớn thu được từ việc bán đất nông nghiệp để chuyển đổi đất sang mục đích sử dụng khác như xây dựng nhà ở. Điều này đã giúp JA phát triển thành một ngân hàng khổng lồ với hơn 100.000 tỷ yen (644 tỷ USD) tiền gửi.

Ngoài ra, Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) đã từ lâu chuyển sang bảo vệ thu nhập của nông dân thông qua các khoản trợ cấp trực tiếp từ chính phủ thay vì chỉ hỗ trợ giá. Đồng thời, nông dân Nhật Bản thường trồng lúa vào tháng 6 hàng năm. Tuy nhiên, với sự gia tăng số lượng nông dân bán thời gian, việc trồng lúa đã được đẩy sớm hơn vào Tuần lễ Vàng (Golden Week) từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5. Trong bối cảnh này, việc quay lại trồng lúa vào tháng 6 và thu hoạch vào tháng 10 sẽ giúp tránh thiệt hại do nhiệt độ cao, trong khi tăng cường sản xuất lúa mỳ cũng sẽ góp phần nâng cao tỷ lệ tự cung cấp thực phẩm.

Theo bnews.vn Sao chép

Cùng chuyên mục Nông nghiệp

Ấn Độ trở thành nước sản xuất gạo lớn nhất thế giới

Ấn Độ vượt Trung Quốc để trở thành nước sản xuất gạo lớn nhất thế giới, khi sản lượng gạo của nước này niên vụ 2025-2026 được dự báo đạt mức cao kỷ lục 154,02 triệu tấn.

Các cặp đôi Ấn Độ “đổ xô” mua vàng Dubai trước mùa cưới Trung - Mỹ đạt thỏa thuận cắt giảm thuế quan đối với một số mặt hàng

Động thái mới tại AgriS sau giai đoạn chuyển giao thế hệ

Sau giai đoạn chuyển giao lãnh đạo, AgriS đã ghi nhận những thay đổi mang tính đột phá về chiến lược, vận hành và định vị thị trường, mở ra giai đoạn phát triển mới. Đồng thời, lãnh đạo thế hệ kế cận đang tiếp tục nâng tỷ lệ sở hữu nhằm khẳng định cam kết đồng hành dài hạn với sự phát triển dài hạn của doanh nghiệp.

TTC AgriS bổ nhiệm loạt nhân sự cấp cao, chuẩn bị cho giai đoạn tăng trưởng mới TTC AgriS hoàn tất huy động gần 500 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi, lãi suất 9,5%/năm TTC AgriS đặt mục tiêu lợi nhuận niên độ mới đi ngang, tham vọng đạt vốn hóa 2,7 tỷ USD vào năm 2030