Ngân hàng nào giảm lãi suất mạnh nhất sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước?

Trong hơn 1 tuần qua, đã có 30 ngân hàng thương mại trong nước công bố giảm lãi suất huy động.

Ngân hàng nào giảm lãi suất mạnh nhất sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước?

Sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước, làn sóng giảm lãi suất huy động tiếp tục lan rộng trong hệ thống ngân hàng, với sự tham gia của hầu hết các ngân hàng lớn nhỏ. Mức điều chỉnh dao động từ 0,05% đến 1%/năm, tập trung chủ yếu ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên và diễn ra mạnh hơn trên kênh trực tuyến.

Theo đó, đã có 30 ngân hàng thương mại trong nước công bố giảm lãi suất huy động sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước với mức giảm phổ biến 0,1 - 0,5 điểm %, gồm: VPBank, Techcombank, SeABank, BVBank, Sacombank, ABBank, KienlongBank, BaoViet Bank, LPBank, Nam A Bank, NCB, SHB, TPBank, Viet A Bank, Cake, Agribank, VietinBank, MB, Vietcombank, Eximbank, Bac A Bank, MSB, OCB, PGBank, Pvcombank, VietBank, BIDV, MBV, Saigonbank và Vikki Bank.

Nhóm ngân hàng quốc doanh ghi nhận mức điều chỉnh đáng chú ý. VietinBank giảm 0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 24–36 tháng tại quầy. Vietcombank cũng giảm 0,5%/năm ở kỳ hạn 24 tháng, áp dụng đồng thời tại quầy và kênh online. Trong khi đó, Agribank thực hiện hai đợt điều chỉnh liên tiếp, lần thứ nhất giảm 0,5%/năm với các kỳ hạn từ 24 tháng trở lên, sau đó tiếp tục giảm 0,4%/năm ở kỳ hạn 6–11 tháng và 0,2%/năm ở kỳ hạn 12–24 tháng.

BIDV là ngân hàng quốc doanh có mức giảm mạnh nhất, với biên độ 0,8%–0,9%/năm cho các kỳ hạn từ 6–36 tháng, áp dụng trên kênh trực tuyến. Ngoài ra, nhà băng này cũng giảm lãi suất tiết kiệm tại quầy tương tự như các ngân hàng quốc doanh khác.

Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần lớn, xu hướng giảm lãi suất diễn ra trên diện rộng. VPBank giảm 0,3%–0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6–36 tháng trên kênh online. Techcombank điều chỉnh giảm 0,1%/năm ở kỳ hạn 3–5 tháng và 0,5%/năm đối với kỳ hạn từ 6–36 tháng. MB giảm 0,1%/năm ở kỳ hạn 6–18 tháng, 0,3%/năm ở kỳ hạn 24 tháng và 0,5%/năm với kỳ hạn 36–60 tháng.

Một số ngân hàng ghi nhận mức giảm sâu ở các kỳ hạn dài. LPBank giảm từ 0,4% đến 1%/năm đối với kỳ hạn 6–36 tháng, trong đó mức giảm mạnh nhất tập trung ở các kỳ hạn 36–60 tháng. Sacombank giảm 0,3%/năm với kỳ hạn 6–11 tháng và 0,5%/năm với kỳ hạn 12–36 tháng. SHB giảm 0,2%–0,3%/năm đối với kỳ hạn 6–12 tháng và 0,4%/năm với kỳ hạn 15–36 tháng. Eximbank giảm 0,5%/năm đối với kỳ hạn 18–36 tháng.

Quảng cáo

Nhiều ngân hàng quy mô vừa cũng tham gia điều chỉnh lãi suất. SeABank thực hiện hai lần giảm liên tiếp, tổng mức giảm lên tới 0,4%–0,5%/năm cho các kỳ hạn 6–36 tháng. OCB giảm 0,2%–0,5%/năm ở kỳ hạn 6–36 tháng. PVcomBank giảm 0,5%/năm ở kỳ hạn 6–36 tháng; trong khi MSB thực hiện hai đợt giảm, trong đó mức giảm cao nhất lên tới 0,5%/năm ở kỳ hạn 36 tháng. Nam A Bank giảm 0,1%–0,2%/năm ở kỳ hạn 6–12 tháng.

Tại nhóm ngân hàng nhỏ, BVBank giảm 0,3%/năm ở kỳ hạn 6 tháng và 0,5%/năm ở kỳ hạn 15–36 tháng. BaoViet Bank giảm 0,3%/năm cho kỳ hạn 6–36 tháng. Saigonbank giảm 0,1%/năm ở kỳ hạn 6–12 tháng và 0,5%/năm ở kỳ hạn 24–36 tháng.

Một số ngân hàng khác cũng điều chỉnh nhưng với biên độ thấp hơn. ABBank giảm 0,05%/năm ở kỳ hạn 6–13 tháng và 0,5%/năm ở kỳ hạn 15–60 tháng. KienlongBank giảm đồng loạt 0,2%/năm cho các kỳ hạn từ 1–60 tháng. NCB giảm 0,1%/năm đối với các kỳ hạn 6–60 tháng. PGBank và VietBank cùng giảm 0,2%/năm ở các kỳ hạn trung dài.

Theo Chứng khoán Vietcombank (VCBS), định hướng xuyên suốt của Ngân hàng Nhà nước là duy trì ổn định vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Việc giảm lãi suất huy động được xem là điều kiện cần để giảm lãi suất cho vay, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp. Dòng vốn tín dụng tiếp tục được kiểm soát chặt tại các lĩnh vực rủi ro và ưu tiên cho các động lực tăng trưởng mới như doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghệ cao.

Dù vậy, áp lực huy động vốn đối với hệ thống ngân hàng vẫn hiện hữu. Nhu cầu vốn trung và dài hạn gia tăng mạnh khi nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn được triển khai; tăng trưởng tín dụng duy trì cao hơn tăng trưởng huy động trong thời gian dài khiến tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) ở mức cao tại nhiều ngân hàng; đồng thời áp lực tỷ giá cũng đặt ra yêu cầu duy trì chênh lệch lãi suất VND–USD hợp lý nhằm ổn định dòng vốn.

VCBS nhận định mặt bằng lãi suất huy động hiện có xu hướng đi ngang và khó tăng thêm nhờ sự điều hành quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước.

Theo Nhịp sống Thị trường Sao chép

Cùng chuyên mục Tài chính

Nhu cầu vốn trong nền kinh tế tăng nhanh, áp lực đè nặng lên vai ngân hàng

Nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục tăng nhanh, trong khi huy động vốn chưa theo kịp tốc độ mở rộng tín dụng, tạo sức ép lên thanh khoản, chi phí vốn và cân đối kỳ hạn của hệ thống ngân hàng.

Các ngân hàng đang nắm chìa khóa quan trọng để hút mạnh dòng vốn ngoại 12 ngân hàng tung gói tín dụng 408.000 tỷ đồng thúc đẩy tăng trưởng 2 con số

Tái cơ cấu danh mục ETF kỳ quý III/2026: Cơ hội và áp lực từ dòng vốn ngoại

Kỳ tái cơ cấu danh mục quý III/2026 của chỉ số FTSE Vietnam 30 đang đến gần với các mốc thời gian quan trọng. Kỳ cơ cấu này được kỳ vọng sẽ chứng kiến sự biến động đáng kể của dòng vốn ngoại khi ước tính có thể có tới 5 cổ phiếu tiềm năng được thêm mới và

Chỉ số VN-Index hướng lại 1.800 điểm: Cú hích mới từ danh mục FTSE GEIS liệu có đủ? FTSE Russell công bố tài liệu quan trọng về tỷ trọng của Việt Nam, lộ trình giải ngân, phân loại cổ phiếu…

Một sự kiện lớn sắp diễn ra, CTCK đưa ra 2 kịch bản cho thị trường chứng khoán

Trong kịch bản tích cực, nếu VN-Index vượt thuyết phục vùng 1.850-1.870 điểm với thanh khoản cải thiện và độ rộng thị trường được củng cố, chỉ số có thể hướng tới vùng đỉnh 1.900-1.930 điểm.

Việt Nam có 63 DN tỷ USD trên sàn chứng khoán, giá trị hơn 8,5 triệu tỷ đồng: 1 năm có thêm 6 tân binh trị giá hơn 500.000 tỷ Chuyên gia đưa ra lời khuyên cho nhà đầu tư chứng khoán sau nghỉ lễ