HSBC: Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn tự tin về tăng trưởng quốc tế dù chi phí gia tăng

Khảo sát của HSBC cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đã phải đối mặt với tình trạng chi phí tăng cao hơn hẳn so với mức trung bình toàn cầu và dự kiến sẽ phát sinh thêm chi phí ngắn hạn do bất ổn thương mại.

HSBC: Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn tự tin về tăng trưởng quốc tế dù chi phí gia tăng
80% doanh nghiệp Việt Nam tham gia khảo sát đã phải đối mặt với tình trạng chi phí gia tăng do biến động thuế quan và thương mại. (Ảnh minh họa)

Doanh nghiệp toàn cầu đang bị ảnh hưởng bởi chi phí gia tăng, gián đoạn chuỗi cung ứng và phải xem xét lại chiến lược cũng như kế hoạch đầu tư trong bối cảnh thuế quan và chính sách thương mại thay đổi tiếp tục tác động đến hoạt động kinh doanh.

Trong bối cảnh đó, HSBC đã triển khai một khảo sát với hơn 5.700 doanh nghiệp quốc tế doanh thu trong khoảng 50 triệu đến 2 tỷ USD tại 13 thị trường, trong đó bao gồm 250 doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam để mang đến thông tin chuyên sâu về kế hoạch kinh doanh và tâm thế của doanh nghiệp quốc tế đối với vấn đề thuế quan và thương mại.

Bất ổn thương mại khuyến khích doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội mới

Theo kết quả khảo sát của HSBC, doanh nghiệp Việt Nam đã phải đối mặt với tình trạng chi phí tăng cao hơn hẳn so với mức trung bình toàn cầu và dự kiến sẽ phát sinh thêm chi phí ngắn hạn do bất ổn thương mại.

Cụ thể, 80% doanh nghiệp Việt Nam tham gia khảo sát đã phải đối mặt với tình trạng chi phí gia tăng do biến động thuế quan và thương mại. Họ có thể sẽ phải đối mặt với chi phí tăng cao hơn trong ngắn hạn (82%) và tăng nhẹ thêm nữa trong dài hạn (75%). Tác động lên doanh thu bình quân đối với doanh nghiệp Việt Nam do chậm trễ/gián đạn chuỗi cung ứng cao hơn mức trung bình toàn cầu 2 điểm phần trăm.

Để ứng phó với bất ổn thương mại, các doanh nghiệp Việt Nam đã mang hoạt động sản xuất về lại Việt Nam (42%), dịch chuyển trọng tâm sang thị trường trong nước (41%) và gia tăng hoạt động phân tích dữ liệu (41%).

Nhìn về tương lai, các công ty Việt Nam vẫn tự tin về tăng trưởng quốc tế (81%) và nhiều doanh nghiệp tham gia khảo sát (76%) cho rằng bất ổn thương mại đã khuyến khích họ phát triển và tìm kiếm cơ hội mới. Mặc dù vậy, hơn một nửa doanh nghiệp (54%) cho biết họ cần sự hỗ trợ bên ngoài trong việc lập kế hoạch đối phó với khủng hoảng và củng cố sức bền cho doanh nghiệp.

Đối với châu Á, HSBC nhận định bản đồ thương mại châu Á sẽ có nhiều thay đổi lớn nếu tình hình thương mại bất ổn còn tiếp diễn, trong đó, 38% doanh nghiệp châu Á sẽ gia tăng hoạt động thương mại với Nam Á, 36% gia tăng hoạt động thương mại với châu Âu, 33% gia tăng hoạt động thương mại với Trung Đông nhưng 28% giảm hoạt động thương mại với Bắc Mỹ.

Trong vòng hai năm tới, 52% công ty châu Á cân nhắc hoặc đang trong quá trình dịch chuyển hoạt động sản xuất đến hoặc gia tăng hoạt động sản xuất tại Trung Quốc. Đối với Nam Á, con số này là 39%, châu Âu là 35%, Mỹ 29% và Trung Đông là 28%.

Báo cáo chỉ ra, hiện tại, vấn đề đáng quan ngại nhất với doanh nghiệp châu Á (51%) là chi phí gia tăng do thuế quan và các yếu tố liên quan đến thương mại. 34% nhóm doanh nghiệp châu Á đã điều chỉnh giá để phản ảnh tình hình chi phí tăng cao, trong khi 51% có kế hoạch sẽ triển khai trong tương lai. Ngoài ra, 37% công ty châu Á đã tăng mức độ hàng tồn kho để quản lý gián đoạn cung ứng và 49% dự định sẽ triển khai việc này.

Quảng cáo
Ông Surajit Rakshit, Giám đốc Toàn quốc Khối giải pháp thương mại toàn cầu, HSBC Việt Nam. (Ảnh HSBC)

Ông Surajit Rakshit, Giám đốc Toàn quốc Khối Giải pháp Thương mại Toàn cầu của HSBC Việt Nam nhận định: “Với nhiều khách hàng, vốn lưu động hiện là ưu tiên hàng đầu với lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp, chủ yếu do phần lớn vốn bị kẹt ở hàng tồn và các khoản phải thu. Trước khi thông báo thuế quan được công bố, nhiều doanh nghiệp mua hàng đã chủ động tăng mức tồn kho bằng chiến lược đẩy nhanh đơn hàng đặt trước (frontloading) để ứng phó với những vấn đề chuỗi cung ứng dẫn tới lượng hàng tồn gia tăng ở phía người mua. Ở chiều ngược lại, khi quy định thuế quan tạm thời đi vào thực thi kéo theo tình trạng treo hoặc hủy hàng loạt đơn đặt hàng và vận chuyển ở một số lĩnh vực, dẫn đến hàng tồn tăng ở phía nhà cung cấp”.

Trong giai đoạn gián đoạn thương mại hiện nay, các công ty châu Á nhận định quản lý dòng tiền và thanh khoản là hình thức hỗ trợ hiệu quả nhất trong quản lý vốn lưu động (61%), theo sau là cải thiện điều khoản thanh toán với bên mua và bên cung ứng (55%) và tài trợ chuỗi cung ứng (51%).

Xuất hiện những hành lang thương mại mới

Kết quả khảo sát của HSBC cũng cho thấy doanh nghiệp toàn cầu đang bị ảnh hưởng bởi chi phí gia tăng. Cụ thể, hai phần ba doanh nghiệp (66%) tham gia khảo sát cho biết đã phải đối mặt với tình trạng chi phí gia tăng do biến động thuế quan và thương mại.

Các doanh nghiệp cũng nhìn thấy trước khả năng sụt giảm doanh thu bình quân 18% do chậm trễ trong chuỗi cung ứng. Hơn một nửa doanh nghiệp tham gia khảo sát (51%) nhận định chi phí gia tăng là mối lo hàng đầu đối với chiến lược cung ứng và 85% doanh nghiệp đã hoặc có kế hoạch điều chỉnh chiến lược theo hướng tăng giá để phản ánh tình trạng chi phí cao hơn hoặc những biến động trên thị trường.

Hơn ba phần tư doanh nghiệp (78%) đang phải xem xét lại mô hình kinh doanh lâu dài. Nếu tình hình thuế quan bất ổn còn tiếp diễn trong hai năm tới, 43% công ty sẽ xem xét lại chiến lược mở rộng kinh doanh trên thị trường quốc tế và 39% sẽ chuyển trọng tâm sang thị trường trong nước hoặc khu vực.

Bất chấp những khó khăn này, tâm lý lạc quan về mở rộng thương mại toàn cầu vẫn vững vàng. Gần 9 trên 10 doanh nghiệp (89%) tự tin vào khả năng tăng trưởng thương mại quốc tế trong vòng hai năm tới. Các doanh nghiệp cũng sắp xếp lại chuỗi cung ứng cũng như xem xét lại cách thức và thị trường hoạt động. Hầu hết đang bắt đầu hoặc có kế hoạch áp dụng chiến lược chuyển hoạt động sản xuất về gần thị trường khách hàng quan trọng (83%) và mang hoạt động sản xuất trở lại quốc gia xuất xứ của doanh nghiệp (77%).

Theo HSBC, điều đáng khích lệ là một loạt doanh nghiệp tham gia khảo sát nhìn nhận áp lực thương mại giống như chất xúc tác thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, với 77% doanh nghiệp nói rằng yếu tố này đã khuyến khích họ phát triển và tìm kiếm cơ hội mới. Nhiều doanh nghiệp (58%) đã ứng dụng công nghệ hoặc nền tảng mới, 56% cải thiện được hiệu suất nội bộ hoặc cơ cấu chi phí và 51% đã phát triển sản phẩm hoặc dịch vụ mới.

Khảo sát này cho thấy sự xuất hiện của những hành lang thương mại mới ở một số thị trường tham gia khảo sát và chúng tôi quan sát thấy các doanh nghiệp toàn cầu đang củng cố các mối quan hệ tại những thị trường trọng yếu bên ngoài. Doanh nghiệp Malaysia (61%) và Việt Nam (52%) đang mở rộng quan hệ với Trung Quốc; doanh nghiệp Ấn Độ (54%) và Mỹ (51%) với châu Âu và doanh nghiệp Vương quốc Anh (46%) và Ấn Độ (62%) với Mỹ. Ở một số thị trường, tâm thế lạc quan về tăng trưởng thương mại quốc tế vẫn vững mạnh, dẫn đầu là Ấn Độ (96%) và các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (94%).

Ông Surajit Rakshit nhận định: “Bối cảnh thuế quan và thương mại bất định trong hiện tại mang đến nhiều thách thức không nhỏ cho doanh nghiệp toàn cầu nhưng bản thân doanh nghiệp lại cho thấy sự kiên cường và khả năng thích ứng linh hoạt trong hoạt động kinh doanh”.

Để vượt qua việc chi phí gia tăng và doanh thu sụt giảm, chuyên gia của HSBC cho rằng việc xây dựng chính sách thích ứng là rất cấp thiết. Theo đó, doanh nghiệp không chỉ cần sự linh hoạt mà cả những quan hệ đối tác vững mạnh nhằm đảm bảo tăng trưởng ổn định trong một nền kinh tế toàn cầu đang không ngừng thay đổi.

Theo doanhnghiepkinhtexanh.vn Sao chép

Cùng chuyên mục Tiêu điểm

Cục Thống kê chỉ rõ nền tảng để kinh tế Việt Nam tăng tốc từ năm 2026

Theo Cục Thống kê, ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh đầu tư hiệu quả, cải cách thể chế và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là những điều kiện tiên quyết để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong trung và dài hạn.

Quốc hội chốt mục tiêu GDP 2026 tăng từ 10% 10 điểm nhấn kinh tế nổi bật năm 2025: GDP tăng trên 8%, thị trường tài chính thăng hạng

Vốn FDI thực hiện năm 2025 cao nhất 5 năm qua, đạt hơn 27,6 tỷ USD

Báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, tính đến ngày 31/12/2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam đạt 38,42 tỷ USD, tăng nhẹ 0,5% so với năm trước. Đáng chú ý, dòng vốn thực hiện ước đạt 27,62 tỷ USD, thiết lập mức cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cũng ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng.

Điều gì thu hút vốn FDI vào Việt Nam cao nhất 5 năm qua? Vốn FDI thực hiện 11 tháng năm 2025 đạt mức kỷ lục trong 5 năm

“Điểm danh” những địa phương có đóng góp lớn vào tăng trưởng của cả nước

Một số địa phương có tốc độ tăng trưởng khá và cao, tiếp tục giữ vai trò động lực, đóng góp lớn vào tăng trưởng chung của cả nước nhưng vẫn còn những địa phương tăng trưởng thấp...

Năm 2026: FDI và vốn nội - thế song hành của chu kỳ tăng trưởng mới Kinh tế Việt Nam 2026: Tăng trưởng cao và phép thử về nền tảng, thực thi

Bất động sản 2026: “Điểm rơi” tăng trưởng trong chu kỳ mới

2025 là năm bất động sản “lấy lại nhịp thở”. Dù thị trường chưa ấm đều nhưng đã đủ nền tảng để tái thiết niềm tin và đặt nền móng cho chu kỳ tăng trưởng mới.

Hoàng Anh Gia Lai muốn bán nốt 91 triệu cổ phiếu HNG cuối cùng, chính thức chia tay sau 15 năm Một "ông lớn" lên kế hoạch kinh doanh 2026, mục tiêu mỗi ngày "bỏ túi" hơn 48 tỷ đồng

Kinh tế Việt Nam 2026: Tăng trưởng cao và phép thử về nền tảng, thực thi

Năm 2025 khép lại với bức tranh kinh tế Việt Nam tương đối ổn định trong bối cảnh nhiều bất định toàn cầu. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, thách thức cốt lõi của giai đoạn tới không nằm ở con số tăng trưởng, mà ở nền tảng tạo ra tăng trưởng và năng lực thực thi chính sách khi Việt Nam bước vào năm 2026 với những mục tiêu cao hơn.

ADB: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 đạt 6,7% Kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn củng cố năng lực tự chủ

Thường trực Chính phủ có chỉ đạo mới về đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 03/TB-VPCP ngày 04/01/2026 kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp về tình hình triển khai các tuyến đường sắt và các quy trình, quy định, quy chuẩn liên quan đến các dự án đường sắt.

Vingroup rút đăng ký đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam Bộ Xây dựng cập nhật thông tin về dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Dự án nhà máy điện 178.000 tỷ đồng của Vingroup – VinEnergo tại Hải Phòng có diễn biến mới

UBND TP. Hải Phòng đề nghị Bộ Xây dựng bổ sung quy hoạch bến cảng LNG tại Nam Đồ Sơn để phục vụ Nhà máy Nhiệt điện LNG Hải Phòng công suất 4.800 MW của liên danh Vingroup - VinEnergo.

Vingroup rút đăng ký đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam Vingroup và Thủ đô Congo đẩy mạnh hợp tác toàn diện trong lĩnh vực giao thông xanh

Một lĩnh vực then chốt được dự báo đạt quy mô kỷ lục 8,51 triệu tỷ đồng trong 5 năm tới

VNDirect cho rằng Việt Nam đang tiến vào chu kỳ phát triển hạ tầng lớn nhất từ trước đến nay, khi kế hoạch đầu tư trung hạn 2020–2025 dần khép lại và chuẩn bị bước sang giai đoạn 2026–2030.

Năm 2026: FDI và vốn nội - thế song hành của chu kỳ tăng trưởng mới Nhóm ngành nào được dự báo có tăng trưởng lợi nhuận vượt trội trong quý 4/2025?