Trái ngược tăng trưởng tín dụng tại hai “đầu tàu” kinh tế

Số liệu thống kê cho thấy tăng trưởng tín dụng tại hai “đầu tàu” kinh tế là Hà Nội và TP.HCM đang có sự cách biệt lớn.

Trái ngược tăng trưởng tín dụng tại hai “đầu tàu” kinh tế

Số liệu của Cục Thống kê TP.HCM vừa công bố cho thấy, đến cuối tháng 8/2024, dư nợ tín dụng của hệ thống tổ chức tín dụng trên địa bàn mới đạt mức tăng 4,5% so với cuối năm ngoái. Con số này thấp hơn nhiều so với tăng trưởng tín dụng chung của cả nước tính đến ngày 26/8 là 6,63%.

Đáng chú ý, tốc độ cho vay của hệ thống ngân hàng ở TP.HCM có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại trong 2 tháng qua, khi tháng 6 tăng 4%, tháng 7 chỉ tăng 3,9% và tháng 8 tăng 4,5% so với cuối năm ngoái.

Tăng trưởng tín dụng chậm dù lãi suất cho vay giảm. Số liệu thống kê tại TP.HCM đến hết tháng 8, lãi suất cho vay bằng VND thấp hơn 0,9 điểm % đến 1 điểm % đối với các kỳ ngắn hạn so với cuối năm ngoái, bất chấp lãi suất huy động đang nhích lên.

Theo Cục Thống kê TP.HCM, những con số trên cho thấy khả năng hấp thụ vốn của kinh tế TP HCM vẫn chưa cải thiện nhiều và mục tiêu tín dụng tăng trưởng cả năm 15% sẽ gặp nhiều thách thức nếu không có giải pháp tháo gỡ.

Trong khi đó, tại Hà Nội, con số thống kê cho thấy nhiều tín hiệu khả quan hơn khi tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn thành phố đến cuối tháng 8/2024 ước đạt 4.103 nghìn tỷ đồng, tăng 1,15% so với cuối tháng trước và tăng 13,44% so với thời điểm kết thúc năm 2023.

Quảng cáo

Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 1.790 nghìn tỷ đồng, tăng 1,73% và tăng 18,96%; dư nợ trung hạn và dài hạn đạt 2.313 nghìn tỷ đồng, tăng 0,71% và tăng 9,51%.

Như vậy, sau 8 tháng, tăng trưởng tín dụng của Hà Nội cao gấp đôi so với mức tăng trưởng chung của cả nước và gấp ba lần TP HCM.

Về cơ cấu cho vay, cho vay theo chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp chiếm 13,9% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế; cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 18,9%; chương trình nông nghiệp, nông thôn chiếm 8,93%; cho vay xuất khẩu chiếm 5,14%; cho vay công nghiệp hỗ trợ chiếm 2,32%; cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm 0,36%; cho vay chính sách xã hội chiếm 0,43%. Tính đến cuối tháng 8/2024, tỷ lệ nợ xấu của các TCTD chiếm 1,69% trong tổng dư nợ.

Lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước với các khoản vay cũ và mới còn dư nợ ở mức 6,9 - 9,3%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ưu tiên bình quân khoảng 3,6%/năm theo quy định của NHNN.

Lãi suất tiền gửi tác động theo đó phổ biến ở mức 0,2 - 0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 1,6 - 5,0%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 3,5 - 5,8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 4,7 - 6,0%/năm.

Về huy động vốn, đến cuối tháng 8/2024, tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn ước tính đạt 5.801 nghìn tỷ đồng, tăng 1,27% so với cuối tháng trước và tăng 8,73% so với thời điểm kết thúc năm 2023.

Còn theo số liệu mới nhất từ NHNN, tăng trưởng tín dụng cả hệ thống tính đến ngày 26/8 mới đạt 6,63%. Theo đó, để hoàn thành mục tiêu, trong 4 tháng còn lại của năm 2024, hệ thống ngân hàng cần đẩy thêm gần 8,4%, tương đương với hơn 1,1 triệu tỷ đồng ra nền kinh tế.

Theo Theo Thời đại Sao chép

Cùng chuyên mục Tài chính

Tín dụng bất động sản tăng nhanh: Ngân hàng nào đang cho vay nhiều nhất?

Tín dụng đổ vào hoạt động kinh doanh bất động sản tiếp tục tăng nhanh trong nửa đầu năm 2026. Tại 13 ngân hàng có thuyết minh chi tiết, tổng dư nợ cho vay bất động sản đã vượt 1,22 triệu tỷ đồng, trong đó VPBank dẫn đầu, tiếp đến là SHB, Techcombank và MB.

Các ngân hàng đánh giá thế nào về triển vọng lợi nhuận, tăng trưởng tín dụng và huy động thời gian tới Kích hoạt gói tín dụng 220.000 tỷ đồng và loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc Ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất cho vay, tung gói tín dụng ưu đãi

Người dân Mỹ rút hàng tỷ USD từ giá trị nhà ở để trả nợ

Dù nợ thẻ tín dụng gia tăng, người dân Mỹ vẫn duy trì mức chi tiêu cao nhờ tận dụng nguồn tài sản kỷ lục từ giá trị vốn chủ sở hữu nhà ở để duy trì lối sống và thanh toán các khoản nợ lãi suất cao.

Người dân Mỹ đang gánh chi phí do thuế quan Niềm tin của người dân Mỹ vào triển vọng kinh tế rơi xuống mức thấp kỷ lục

Vì sao giá bạc trong nước cao hơn giá thế giới?

Giá bạc trong nước cao hơn thế giới và mức chênh lệch khác nhau tuỳ từng thời điểm. Hiện, giá mua vào của bạc trong nước cao hơn thế giới khoảng 6,8 triệu đồng/kg, bán bán ra cao hơn giá thế giới khoảng 8,7 triệu đồng/kg.

Giá bạc “nhạy cảm” hơn với các dữ liệu lạm phát, lãi suất Giá bạc trong nước cao hơn thế giới 9 triệu đồng/kg, thị trường dự báo biến động mạnh vào giữa tuần Sáng ngày 13/8: Giá bạc Phú Quý, DOJI, Sacombank giảm nhẹ

Chứng khoán Hàn Quốc thăng hoa, dẫn dắt đà tăng của khu vực châu Á

Chứng khoán châu Á đa phần tăng điểm trong phiên 12/8, với tâm điểm là đà phục hồi mạnh mẽ của thị trường Hàn Quốc nhờ nhóm cổ phiếu công nghệ.

Chứng khoán Phố Wall thận trọng trước khi Mỹ công bố số liệu lạm phát Chứng khoán Phố Wall giảm điểm khi tình hình Trung Đông tiếp tục căng thẳng

Giá vàng áp sát mốc 4.400 USD/ounce trước thời điểm Mỹ công bố dữ liệu lạm phát

Giá vàng duy trì quanh mốc 4.400 USD/ounce trong phiên 12/8, khi thị trường chờ đợi dữ liệu lạm phát để tìm kiếm manh mối về lộ trình lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed).

Giá vàng quay đầu giảm sau khi chạm mức cao nhất trong hơn 2 tháng Giá vàng “rơi tự do”, giảm gần 2 triệu đồng/lượng