Lý do khiến kinh tế Mỹ hiện nay khác biệt so với các chu kỳ trước

Theo bài viết trên tờ Wall Street Journal, để hiểu được lạm phát, lãi suất tăng và nguy cơ suy thoái tại Mỹ hiện tại, giới phân tích cần quay ngược lại các mốc thời gian từ trước năm 2000.

Cảng hàng hóa Los Angeles, California, Mỹ. Ảnh: AFP/TTXVN
Cảng hàng hóa Los Angeles, California, Mỹ. Ảnh: AFP/TTXVN

Kinh tế Mỹ liên tục khiến giới phân tích bối rối trong vài năm gần đây. Gần như không có một chuyên gia nào nhận định đúng kịch bản lạm phát vọt lên mức cao, lãi suất liên tục tăng mạnh và những ảnh hưởng của môi trường lãi suất cao đối với nền kinh tế thực.

Câu hỏi đặt ra là phải chăng đã có sự thay đổi cơ bản nào đó về kinh tế Mỹ? Câu trả lời là “đúng” nếu so sánh chu kỳ kinh tế hiện tại với các chu kỳ trước đó trong những năm 2000. Khi nới khung tham chiếu ra 80 năm trở lại đây, chu kỳ hiện tại là có thể lý giải được, dù không dễ để đoán biết. Dưới đây là ba sự khác biệt của chu kỳ lần này.

Cung, chứ không chỉ là yếu tố cầu

Tăng trưởng kinh tế trong nhiều thập kỷ phụ thuộc vào nguồn cung hàng hóa và dịch vụ vốn được thúc đẩy bởi yếu tố lao động, vốn, công nghệ và tri thức. Tuy nhiên, những yếu tố này đã dần thay đổi và thường bị bỏ qua khi giới chuyên gia đưa ra các dự báo về tăng trưởng, lạm phát trong ngắn hạn. Thay vào đó, họ chỉ tập trung vào yếu tố cầu: Chính phủ, doanh nghiệp, hộ gia đình, người nước ngoài muốn chi tiêu bao nhiêu. Khi cầu mạnh, tăng trưởng và lạm phát sẽ gia tăng, còn cầu yếu sẽ dẫn tới tăng trưởng, lạm phát giảm.

Yếu tố cầu thậm chí còn lấn át mạnh hơn trong suy nghĩ của các nhà kinh tế sau khủng hoảng tài chính 2007-2009, thời điểm ngân hàng và hộ gia đình buộc phải cắt giảm chi tiêu và vay mượn để giảm nợ, khiến tăng trưởng và lạm phát giảm dù lãi suất đã rơi xuống mức gần bằng 0.

Thế nhưng khi đại dịch COVID-19 bùng phát năm 2020, yếu tố cung cũng đóng vai trò quan trọng không kém cầu trong việc định hình chu kỳ. Việc liên tục đóng rồi lại mở cửa nền kinh tế đã hạn chế sản lượng của nhiều ngành nghề từ vận tải biển cho đến công nghiệp ô tô.

Các công ty, vốn phải sa thải nhiều nhân viên từ trước đó, khi tuyển dụng lao động trở lại đã nhận thấy nguồn cung lao động bị đứt gãy, do tác động của COVID-19, chính sách bố mẹ ở nhà chăm trẻ em, nghỉ hưu sớm, giảm lao động nhập cư… Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tháng trước đã ghi nhận sự thiếu hụt lao động lên tới khoảng 3,5 triệu người so với thời tiền đại dịch trong quý 4/2022.

Suy yếu nhu cầu làm giảm sức ép lạm phát, nhưng suy yếu nguồn cung lại gây tác động trái chiều. Đó là lý do mà lương lao động và giá cả tăng nhanh hơn thời hậu đại dịch COVID-19 so với các đợt suy thoái trước đó, vốn bị chi phối bởi yếu tố cầu.

Đây không phải lần đầu tiên xảy ra hiện tượng này. Sự đứt gãy nguồn cung dầu mỏ là một tác nhân làm tăng lạm phát và suy giảm kinh tế trong giai đoạn 1973-1980. Lạm phát cũng tăng mạnh sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945) cho tới trước khi nổ ra Chiến tranh Triều Tiên năm 1950 – trong bối cảnh các ngành công nghiệp phải vật lộn thích ứng với dịch chuyển giữa nhu cầu quân sự và dân sự.

Lạm phát quá cao và hệ lụy

Tuần này, một số nghị sĩ dân chủ đã chất vấn Chủ tịch Fed Jerome Powell về việc tại sao thể chế này vẫn tiếp tục tăng lãi suất trong khi giới điều hành dự báo tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng từ 3,4% lên 4,6% trong năm nay - một tỷ lệ cao mà thông thường chỉ xuất hiện trong thời kỳ suy thoái.

Quảng cáo

Hạ nghị sĩ Ayanna Pressley chất vấn ông Powell: “Để ngăn chặn suy thoái, ngài Chủ tịch sẽ dừng tăng lãi suất trong thời gian tới, đúng hay sai?”.

Câu hỏi của bà Pressley, vốn bị ông Powell từ chối trả lời trực tiếp, là có thể hiểu được khi xét đến bối cảnh 25 năm trở lại đây Fed không chỉ dừng tăng lãi suất mà thậm chí còn cắt giảm khi thất nghiệp tăng. Nhưng đó là ở những thời điểm lạm phát biến động trong khoảng biên độ 1-3%, đồng nghĩa với việc Fed không cần đẩy tỷ lệ thất nghiệp lên cao hơn để đưa lạm phát về ngưỡng mục tiêu thường là mức 2% năm 2012.

Điều này tạo ra ấn tượng không có sự đánh đổi giữa lạm phát với thất nghiệp, thậm chí kịch bản còn ngược lại khi Fed nhận thấy cần tập trung ưu tiên hơn cho việc giảm thất nghiệp.

Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là không phải đánh đổi. Vấn đề chỉ là mức đánh đổi này không lớn một khi lạm phát neo ở mức chấp nhận được. Trong những kỷ nguyên trước, mức đánh đổi này là rõ nét. Đơn cử, năm 1973 và 1981, Fed từng kích thích suy thoái để giảm lạm phát.

Đó là tình cảnh lặp lại ở thời điểm hiện nay. Tùy theo các chỉ số đo lường khác nhau, lạm phát tại Mỹ hiện ở mức 4-5% sau khi đã loại trừ các mặt hàng năng lượng và lương thực. Sự cải thiện về nguồn cung có thể giúp hạ nhiệt lạm phát song để đưa chỉ số này về ngưỡng 2%, Fed cho rằng nguồn cầu sẽ phải giảm nữa, đồng nghĩa với thất nghiệp tăng.

Khi đó, thông tin về những chỉ số kinh tế vững vàng vì thế lại trở thành tin xấu, và Fed sẽ còn nhiều việc phải làm.

Không sụp đổ tài chính đồng nghĩa với không suy thoái

Bất chấp việc Fed tăng lãi suất ở cấp độ mạnh và dồn dập nhất kể từ những năm 1980, viễn cảnh suy thoái dự báo vẫn chưa thành hiện thực. Đó là bởi tác động từ hiệu ứng tăng lãi suất phụ thuộc vào mức độ thẩm thấu của lãi suất.

Trong thập kỷ 1990 và 2000, những cải cách về tài chính, nới lỏng quy định tài chính cùng với toàn cầu hóa đã khiến hệ thống tài chính trở nên mong manh hơn, tiềm ẩn nguy cơ về chu kỳ bùng nổ-suy thoái. Khi thực hiện thắt chặt tiền tệ hồi năm 1999-2000, Fed đã gây ra cú vỡ “bong bóng” về cổ phiếu công nghệ, truyền thông và viễn thông, sự cố sau đó khiến doanh nghiệp cắt giảm đầu tư và thuê mướn nhân công.

Chính sách chặt chính sách tiền tệ của Fed giai đoạn 2004-2006 cũng kích hoạt cú vỡ “bong bóng” trên thị trường nhà đất, tạo ra làn sóng vỡ nợ cầm cố và một thời kỳ khủng hoảng tài chính thảm khốc.

Hiện chưa có sự đổ vỡ nào tương tự như vậy xảy ra. Chỉ số căng thẳng tài chính (FSI), công cụ đo lường nguy cơ khủng hoảng tài chính do chi nhánh của Fed tại St. Louis thiết lập, vẫn biến thiên theo đường thẳng. Những quy định sửa đổi được đưa ra sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã khiến các ngân hàng cho vay thận trong hơn, làm giảm khả năng dễ bị tổn thương.

Thêm vào đó, định giá cổ phiếu, bất động sản hiện cũng không “ảo” như năm 2000 và 2006. Doanh nghiệp và hộ gia đình về cơ bản vẫn giữ được bản cân đối lành mạnh, một phần nhờ các gói kích thích kinh tế lớn được tung ra trong thời kỳ đại dịch.

Đương nhiên, có thể vẫn có còn đó những “trái bom nổ chậm” trên các hệ thống tài chính. Nhưng trước khi bom phát nổ, Fed sẽ phải dựa vào công cụ duy nhất là lãi suất để hoàn tất nhiệm vụ của mình về kiểm soát lạm phát.

Theo Bnews Sao chép

Cùng chuyên mục Thế giới

FED đối mặt với bài toán chính sách tiền tệ phức tạp

Từ làn sóng bùng nổ trí tuệ nhân tạo (AI) đến căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông, những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đang khiến cuộc chiến chống lạm phát dai dẳng trở nên phức tạp hơn.

Bầu cử giữa kỳ Mỹ: Tổng thống D. Trump đặt cược vào dự án thép 15 tỷ USD Lợi nhuận 9 tháng đầu năm TCBS đạt 5.708 tỷ đồng, hoàn thành 76% kế hoạch

Đồng won mạnh thúc đẩy làn sóng quảng bá ETF nước ngoài tại Hàn Quốc

Việc tỷ giá won/USD giảm xuống mức thấp nhất trong hơn hai năm đang thúc đẩy các công ty chứng khoán và công ty quản lý tài sản tại Hàn Quốc nối lại hoạt động quảng bá các quỹ hoán đổi danh mục (ETF).

Đồng won Hàn Quốc tăng giá nhờ xuất khẩu bán dẫn khởi sắc Đồng won Hàn Quốc đạt đỉnh cao hơn hai năm so với USD

Mỹ bãi bỏ mức thuế 50% đối với một số sản phẩm nhập khẩu từ Canada

Theo thông báo của Nhà Trắng, các mặt hàng được miễn thuế bao gồm ván ép, một số sản phẩm giấy, máy móc và thiết bị làm lạnh, cùng các loại thùng, hộp và vật liệu đóng gói.

Kinh tế Canada chịu sức ép kép từ thuế quan Mỹ và giá năng lượng tăng cao Canada điều chỉnh nhập cư để nâng chất lượng tăng trưởng

ECB dự kiến thử nghiệm đồng euro kỹ thuật số từ mùa Hè năm 2027

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) dự kiến bắt đầu thử nghiệm đồng euro kỹ thuật số từ mùa Hè năm 2027, sau khi Liên minh châu Âu (EU) hoàn tất khuôn khổ pháp lý vào cuối năm nay.

Nghị viện châu Âu “bật đèn xanh” cho đồng euro kỹ thuật số Anh có thể là nền kinh tế phát triển lớn đầu tiên phát hành trái phiếu chính phủ kỹ thuật số

Chứng khoán toàn cầu chao đảo vì làn sóng đầu tư AI

Giới đầu tư lo ngại chi phí vay vốn để xây dựng trung tâm dữ liệu, mua chip AI ngày càng lớn, trong khi mức định giá cao của nhiều cổ phiếu công nghệ có thể không tương xứng với triển vọng lợi nhuận.

Sắc đỏ bao trùm thị trường chứng khoán châu Á do sức ép từ nhóm công nghệ Chứng khoán Âu – Mỹ giảm điểm trước nỗi lo về lạm phát và nhóm công nghệ

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm giảm mạnh xuống dưới 5%

Lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm, thước đo dùng để định giá các khoản vay thế chấp, vay mua ôtô và nợ thẻ tín dụng, giảm hơn 17 điểm cơ bản xuống 4,972%.

Đà tăng lợi suất trái phiếu Mỹ gây áp lực lớn lên kinh tế châu Âu Phố Wall tăng điểm khi giá dầu và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ hạ nhiệt

Indonesia nâng đóng góp của kinh tế sáng tạo lên hơn 8% GDP vào năm 2029

Indonesia đặt mục tiêu nâng tỷ trọng kinh tế sáng tạo lên hơn 8% GDP vào năm 2029, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển nhân lực và khai thác giá trị từ tài sản trí tuệ.

Chính sách 8% và thu nhập thực tế của tài xế công nghệ tại Indonesia Indonesia tăng tốc khai thác dầu, hướng đến mốc 1 triệu thùng/ngày

Quỹ đầu tư lớn nhất thế giới lỗ 26,5 tỷ euro do trái phiếu lao dốc

Quỹ đầu tư quốc gia Na Uy, quỹ đầu tư quốc gia lớn nhất thế giới, ghi nhận tỷ suất sinh lời âm 0,5% trong quý 3/2026, tương đương khoản lỗ 26,5 tỷ euro, chủ yếu do giá trái phiếu giảm mạnh.

Một quỹ đầu tư Đài Loan bán ròng cổ phiếu Việt Nam 10 quý liên tiếp Quỹ đầu tư lớn nhất thế giới cắt giảm nắm giữ trái phiếu Mỹ

Chứng khoán Âu – Mỹ giảm điểm trước nỗi lo về lạm phát và nhóm công nghệ

Chứng khoán Âu - Mỹ đồng loạt giảm điểm mạnh trong phiên 22/10, khi làn sóng tháo chạy khỏi nhóm cổ phiếu công nghệ và nỗi lo lạm phát đè nặng lên tâm lý nhà đầu tư.

Chứng khoán châu Á chịu áp lực từ một loạt yếu tố bất lợi Sắc đỏ bao trùm thị trường chứng khoán châu Á do sức ép từ nhóm công nghệ