Chuyên gia Chứng khoán Quốc Gia (NSI) đánh giá triển vọng TTCK các tháng cuối 2026

Phóng viên: Ông đánh giá thế nào về định hướng lãi suất của FED trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định? Bên cạnh đó, những diễn biến liên quan đến thỏa thuận diesel giữa Mỹ và Nga có thể được nhìn nhận như tín hiệu cải thiện quan hệ hợp tác kinh tế giữa các cường quốc hay không? Nếu căng thẳng địa chính trị hạ nhiệt và nguồn cung năng lượng ổn định hơn, điều này sẽ tác động thế nào đến kỳ vọng lạm phát, chính sách lãi suất và dòng vốn toàn cầu?

Ông Nguyễn Văn Trúc: Tôi nghiêng về khả năng Fed còn thắt chặt thêm. Fed đã nâng lãi suất lên 3,75–4,00% hôm 16/9.

Còn CPI Mỹ tháng 9 tăng 3,7%, lạm phát lõi 2,6%, còn PPI tăng tới 6,3%, tức giá đầu vào chưa truyền hết sang giá bán.

Theo CME FedWatch, thị trường cho rằng ngày 28/10 Fed sẽ giữ nguyên (xác suất 83,9%), nhưng đến cuộc họp 9/12 thì xác suất có một lần nâng 25 điểm cơ bản là hơn 90%.

Đường lãi suất kỳ vọng lên khoảng 4,25–4,75% vào giữa năm sau, và chưa có lần cắt nào được tính tới hết 2027. Lợi suất trái phiếu Mỹ 10 năm vẫn quanh 5,1%.

Thỏa thuận diesel khó coi là dấu hiệu hai nước xích lại gần nhau. Tổng thống Trump cần hạ giá nhiên liệu trước bầu cử giữa kỳ ngày 3/11. Lượng hàng cam kết lại nhỏ: 300 nghìn tấn ngay và 500 nghìn tấn trong tháng 11, trong khi thế giới thiếu khoảng 130 nghìn tấn diesel mỗi ngày, nên chỉ bù được cỡ sáu ngày. Giấy phép nới trừng phạt chỉ có hiệu lực đến tháng 4/2027, và đã có 12 thượng nghị sĩ của cả hai đảng đòi hủy.

Chỗ nghẽn thật vẫn là eo Hormuz, mỗi ngày chỉ còn khoảng 2 lượt tàu qua, so với mức 85 của năm 2025. Nếu căng thẳng hạ nhiệt thật và Brent xuống dưới 100 USD (hiện khoảng 106), kỳ vọng lạm phát sẽ dịu đi, lợi suất dài hạn giảm, Fed bớt phải tăng lãi suất và vốn dễ quay lại các thị trường mới nổi. Hiện chưa có điều kiện nào trong số đó.

Phóng viên: Chính phủ vừa phát đi thông điệp định hướng giảm lãi suất, trong khi các cơ quan điều hành cũng đang triển khai nhiều biện pháp nới lỏng mang tính kỹ thuật. Theo ông, dư địa giảm lãi suất trong thời gian tới ra sao, và những yếu tố nào sẽ quyết định xu hướng lãi suất từ nay đến cuối năm?

Ông Nguyễn Văn Trúc: Thông điệp giảm lãi suất nằm trong công văn của NHNN ngày 18/10. NHNN yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng ít nhất 0,5 điểm phần trăm, và giảm lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên 1,5–2 điểm phần trăm.

Ngân hàng nào chậm có thể bị xem lại hạn mức tín dụng năm nay và năm 2027. Dư địa có, nhưng chủ yếu do chỉ đạo tạo ra, còn thị trường đang đi theo hướng ngược lại.

Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 6 tháng là 8,8%. Lãi suất qua đêm 4,75% đã vượt lãi suất tái cấp vốn 4,5%. Trái phiếu ngân hàng phát hành ở mức 8,2–9%. Trong khi đó, CPI tháng 9 tăng 5,08%, vượt mục tiêu 4,5%.

Chi phí vốn chưa giảm mà lãi suất cho vay phải giảm 1,5–2 điểm thì phần chênh lệch sẽ đè lên biên lãi ròng của ngân hàng.

Từ nay đến cuối năm, lãi suất phụ thuộc vào cuộc họp Fed 9/12, tỷ giá, CPI và nhu cầu vốn quý IV. Còn tỷ giá chưa đáng lo, nhưng áp lực đang chuyển sang lãi suất.

Tỷ giá trung tâm 25.646 đồng, tăng 2,1% từ đầu năm, trong khi DXY tăng 5,2%. Giá USD tự do chênh với tỷ giá trung tâm 2,0%, tăng từ đáy 0,4% hồi đầu tháng 9, và còn cách giá trần khoảng 718 đồng.

Với lãi suất qua đêm có tuần vọt từ 0,72% lên 4,75%, NHNN phải chuyển sang bơm ròng. Nếu chênh lệch vượt 2,5% và DXY vượt 103, NHNN sẽ phải giữ thanh khoản chặt, và khi đó mục tiêu giảm lãi suất rất khó thực hiện.

Phóng viên: VN-Index đã quay trở lại trên mốc 1.700 điểm, theo ông, nhịp tăng hiện tại có đủ cơ sở để xác nhận thị trường đã tạo đáy hay mới chỉ là một nhịp hồi kỹ thuật? Những tín hiệu nào về thanh khoản, độ rộng thị trường, diễn biến của nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn và hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài cần được xác nhận để củng cố khả năng phục hồi bền vững?

Ông Nguyễn Văn Trúc: Tôi chưa ghi nhận đủ cơ sở để gọi đây là đáy, hiện mới là nhịp hồi kỹ thuật. VN-Index đóng cửa 16/10 ở 1.705,91 điểm, chỉ cao hơn mốc 1.700 khoảng 0,3%, sau khi mất 36,7 điểm trong bốn phiên 12–15/10. Giá trị khớp lệnh hôm đó khoảng 9,9 nghìn tỷ đồng, thấp nhất sáu tuần qua và kém khá xa trung bình 20 phiên (12,1 nghìn tỷ). Khối ngoại bán ròng liên tục từ 23/9, riêng tuần 12–16/10 khoảng 3 nghìn tỷ đồng. Độ rộng có khá lên (16/10 có 174 mã tăng, 120 mã giảm; 13/10 là 95 tăng, 200 giảm), nhưng tăng trên thanh khoản mỏng thì chưa đáng tin.

Về định giá, P/E hiện 11,6 lần, thấp hơn nhiều so với đỉnh khoảng 17 lần hồi tháng 1, nhưng vẫn cao hơn đáy 10,8 lần của tháng 4/2025. Lợi suất lợi nhuận khoảng 8,6% chỉ ngang lãi suất liên ngân hàng 6 tháng (8,8%). Rẻ chưa đủ khi vốn còn đắt.

Tôi cần thấy các phiên tăng có thanh khoản vượt trung bình 20 phiên. Dòng tiền cũng phải lan sang nhóm vốn hóa vừa và nhỏ. Hiện tỷ trọng của VN30 đang ở mức 60–63% với các cổ phiếu lớn của nhóm Bất động sản và Ngân hàng đang chi phối vận động chỉ số chung. Và khối ngoại phải giảm bán rõ rệt. Nếu mất 1.650 điểm thì nhịp hồi này coi như không còn ý nghĩa.

Phóng viên: Trong nhóm phục hồi, một số cổ phiếu Ngân hàng, Chứng khoán và Thép đã nhen nhóm sự khởi sắc sau nhịp điều chỉnh. Theo ông, động lực phục hồi của từng nhóm hiện đến từ yếu tố định giá, kỳ vọng kết quả kinh doanh hay sự cải thiện của dòng tiền? Khi thanh khoản thị trường chưa thực sự khởi sắc, đâu là những yếu tố nhà đầu tư cần theo dõi ở ba nhóm ngành này, và nhóm nào có điều kiện thuận lợi hơn để duy trì đà hồi phục nếu thị trường chung cải thiện?

Ông Nguyễn Văn Trúc: Ba nhóm đều hồi phục, nhưng không đồng đều và lý do khác nhau. Từ 9/10 đến 16/10, chỉ số ngành Thép tăng 3,9%, Chứng khoán tăng 2,2%, Ngân hàng tăng 0,8%. Tuy nhiên, lợi nhuận quý III chưa phải động lực chung, vì theo tổng hợp dự phóng của các công ty chứng khoán, ba nhóm đang đi ba hướng.

Ngân hàng được dự phóng lợi nhuận quý III tăng khoảng 18–19% so với cùng kỳ, nhưng bên trong rất phân hóa: có ngân hàng tăng trên 30%, có ngân hàng giảm trên 25%. Nhóm này hồi phục vì định giá nhiều hơn vì lợi nhuận.

Mức P/B 1,38 lần, thấp hơn trung vị dài hạn khoảng 15%, trong khi khối ngoại vẫn bán ròng 5,1 nghìn tỷ đồng trong tháng 10. Tôi sẽ ưu tiên theo dõi biên lãi ròng của các ngân hàng, vì công văn 18/10 yêu cầu giảm lãi suất cho vay khi chi phí huy động chưa giảm.

Còn Chứng khoán là nhóm duy nhất được dự phóng lợi nhuận quý III giảm, khoảng 10–29% tùy doanh nghiệp, sau khi quý II còn tăng 51%. Lý do khá rõ: giá trị khớp lệnh quý III trên HOSE giảm 62,5% so với cùng kỳ và 21,5% so với quý II. Vì vậy nhịp hồi 2,2% là hồi theo thị trường chung, chưa có kết quả kinh doanh đỡ phía sau, và P/B 1,40 lần cũng đã sát trung vị.

Cuối cùng, Thép là nhóm được dự phóng lợi nhuận tăng mạnh nhất, khoảng 34–46% với doanh nghiệp đầu ngành, lại có dòng tiền: khối ngoại mua ròng 3,4 nghìn tỷ đồng ở nhóm Tài nguyên cơ bản trong tháng 10. Mức tăng đến từ sản lượng của dự án mới, còn một số dự phóng giả định giá bán giảm khoảng 7% so với quý II.

Nếu thị trường chung cải thiện, tôi cho rằng Thép có điều kiện giữ đà tốt hơn cả, nhưng cần theo dõi giá bán và biên lợi nhuận gộp.