
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Tại Nghị quyết, Chính phủ cho biết trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực, đặc biệt là xụng đột tại Trung Đông đã tác động không nhỏ đến kinh tế nước ta trong nửa đầu năm 2026, nền kinh tế nước ta tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng, nhiều chỉ tiêu, chỉ số về tăng trưởng đạt kết quả cao nhất trong nhiều năm, nhiều nhiệm kỳ, được các tổ chức quốc tế đánh giá cao; tăng trưởng tiếp tục được thúc đẩy gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Tuy nhiên, việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.
Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026, bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất, Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là các bộ, cơ quan, địa phương) căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao thực hiện quyết liệt, kịp thời, hiệu quả Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, các Nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25/2026/QH16 của Quốc hội, Nghị quyết số 109/NQ-CP ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ, các Nghị quyết Phiên họp Chính phủ thường kỳ hằng tháng, chỉ đạo của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ; đổi mới tư duy, cách làm, nỗ lực, quyết tâm cao nhất để đạt được mục tiêu tăng trưởng.
Trong đó, Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả: Triển khai các giải pháp ổn định lãi suất, bảo đảm thanh khoản cho nền kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Theo dõi sát, đánh giá tình hình, cập nhật, phân tích cán cân thanh toán quốc tế hằng tháng, tình hình xuất nhập khẩu, dòng vốn đầu tư, thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế và các yếu tố tác động đến tỷ giá, thị trường ngoại hối; phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, các bộ, cơ quan liên quan để theo dõi tình hình dòng ngoại tệ vào, ra nền kinh tế, nhất là của các doanh nghiệp có kim ngạch xuất, nhập khẩu lớn nhằm có giải pháp phù hợp; tăng cường các biện pháp quản lý, giám sát thị trường ngoại hối, ổn định thị trường ngoại hối.
Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí, triển khai các giải pháp nhằm ổn định mặt bằng lãi suất thị trường.
Kiểm soát tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; có cơ chế, giải pháp để đảm bảo nguồn vốn tín dụng cho các dự án lớn, trọng điểm, dự án được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư; đẩy mạnh xử lý nợ xấu và tiếp tục triển khai cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém, được kiểm soát đặc biệt.
Nâng cao chất lượng tín dụng, hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế và các dự án trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu điều chỉnh hạn mức tín dụng phù hợp và xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng hạn mức tăng trưởng để nâng lãi suất cho vay.
Về phối hợp chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước trong năm 2026 tiếp tục nghiên cứu nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại vào nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại để bổ sung thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.
Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 148/NQ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ liên quan đến phát triển thị trường chứng khoán, trái phiếu chính phủ. Phối hợp chặt chẽ về điều hành tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại hệ thống ngân hàng thương mại để hỗ trợ nguồn vốn ngắn hạn cho nền kinh tế. Ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi được ưu tiên sử dụng cho ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh tạm ứng, vay; trường hợp chưa sử dụng, thì ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi được sử dụng để mua bán lại trái phiếu chính phủ và gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại; giao Bộ Tài chính chủ động quyết định hạn mức cụ thể sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại (có thể vượt quá 50% khả năng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi) nhằm tăng cường phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ.