NIM ngân hàng dự báo đi ngang trong năm 2026
Theo báo cáo cáo mới đây của FiinRatings, biên lãi ròng (NIM) của ngành ngân hàng đã giảm xuống 2,9% tại thời điểm cuối năm 2025, từ mức 3,5% vào cuối năm 2024.
Báo cáo trước đó của Vis Ratings cũng chỉ ra, phần lớn các ngân hàng quy mô vừa không hoàn thành mục tiêu lợi nhuận cả năm khi biên lãi ròng (NIM) thu hẹp do chi phí huy động tăng. Đồng thời, xu hướng chuyển dịch sang cho vay khách hàng doanh nghiệp - vốn có lãi suất thấp hơn cùng với việc gia tăng chi phí tín dụng cũng tạo thêm áp lực lên lợi nhuận.
Xu hướng suy giảm NIM trong ngành ngân hàng đã kéo dài trong khoảng 2-3 năm trở lại đây. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc chi phí vốn tăng nhanh hơn lợi suất tài sản sinh lời, trong bối cảnh hệ thống ngân hàng duy trì mặt bằng lãi suất thấp nhằm hỗ trợ nền kinh tế phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng.
Tại đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) diễn ra cuối tuần qua, ông Phạm Như Ánh, Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Quân đội (MB, mã MBB) dự báo, trong năm 2026 xu hướng NIM chung của ngành ngân hàng sẽ tiếp tục thu hẹp.
“Lý do là đầu vào huy động tăng, lãi suất có thời điểm lên tới 8-9%/năm. Trong khi đó, đầu ra thì không thể tăng vọt lên mười mấy phần trăm được vì phải chia sẻ với nền kinh tế và khách hàng cũng không chịu nổi, nếu tăng lãi suất ngay lập tức nợ xấu sẽ diễn ra. Do đó, NIM vẫn sẽ hẹp lại”, ông Ánh phân tích.
Theo lãnh đạo MB, trong thời gian tới, với chính sách điều hành quyết liệt, lãi suất đầu vào giảm xuống thì NIM sẽ được cải thiện. Song xu hướng chung của thị trường trong năm 2026 là NIM chỉ duy trì đi ngang hoặc có thể suy giảm hơn so với năm 2025.
Tại ĐHĐCĐ thường niên 2026 diễn ra trước đó, ông Trần Hùng Huy, Chủ tịch Ngân hàng TMCP Á châu (ACB) nhận định chính sách kiểm soát tín dụng trong năm nay mang lại cả thách thức và cơ hội cho ngân hàng này. Về thách thức, tăng trưởng tín dụng có thể thấp hơn năm trước và thực tế, ACB đã đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 16%, thấp hơn mức thực hiện 18,3% của năm 2025.
Về cơ hội, ACB có điều kiện tái cơ cấu danh mục tín dụng, tập trung vào các khoản vay có hiệu quả cao hơn và cải thiện NIM từ hoạt động cho vay.
“Dù tăng trưởng tín dụng có thể chậm lại nhưng chúng tôi kỳ vọng hiệu quả sinh lời từ hoạt động cho vay sẽ được cải thiện, tiếp tục duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp, đảm bảo an toàn trong trung và dài hạn”, Chủ tịch ACB nói.
Tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (mã VIB), Chủ tịch HĐQT Đặng Khắc Vỹ đánh giá năm 2026 vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, điển hình là sự biến động khó lường của lãi suất liên ngân hàng. Tuy nhiên, sau 2 năm (2024-2025) đối mặt với khó khăn, VIB đã học được cách dự báo, ứng xử linh hoạt và đặc biệt là cá thể hóa giải pháp tài chính. Theo đó, ngân hàng này sẽ triển khai chiến lược phù hợp cho từng phân khúc khách hàng với NIM khác nhau, đồng thời gia tăng thu nhập từ phí dịch vụ để cải thiện lợi nhuận.
Tương tự, tại Ngân hàng TMCP Phương Đông (mã OCB), Tổng Giám đốc Phạm Hồng Hải cho biết để đạt được kế hoạch lợi nhuận năm 2026 (6.960 tỷ đồng, tăng 39% so với năm 2025), bên cạnh duy trì đóng góp của các thế mạnh truyền thống, ngân hàng định hướng đẩy mạnh cho vay các sản phẩm có lợi suất cao đi kèm rủi ro có thể chấp nhận được, cơ cấu lại tài sản sinh lãi theo hướng tập trung sản phẩm có lãi suất cao, nhờ đó cải thiện về NIM cũng như quy mô.
Lợi thế nghiêng về CASA cao và vốn mạnh
Gần đây, sau cuộc họp của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước với 46 ngân hàng thương mại, mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường đã nhanh chóng “hạ nhiệt” khi hàng chục ngân hàng công bố giảm lãi suất huy động nhiều kỳ hạn. Việc lãi suất huy động ở các kỳ hạn trung và dài hạn được kỳ vọng sẽ giúp các ngân hàng từng bước tối ưu chi phí vốn đầu vào, qua đó giúp NIM cải thiện.
Song mặt khác, việc giảm lãi suất đầu vào cũng nhằm tạo dư địa để tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất cho vay (đầu ra) trong thời gian tới nhằm hỗ trợ cá nhân và doanh nghiệp phục hồi hoạt động sản xuất - kinh doanh, đồng thời kích thích nhu cầu tín dụng phục vụ cả lĩnh vực sản xuất lẫn tiêu dùng. Do đó, khi cân đối giữ bài toán lãi suất đầu vào và đầu ra, NIM của các ngân hàng được dự báo chưa có sự cải thiện nhiều trong năm 2026.
Theo dự báo của FiinRatings, NIM toàn ngành có thể sẽ duy trì dưới 3% trong năm 2026 do chịu áp lực từ chi phí vốn cao hơn và lợi suất cho vay bị thu hẹp. Ngược lại, việc tập trung vào cho vay kỳ hạn dài hơn và tín dụng tiêu dùng có thể giúp duy trì NIM ở mức tương đương năm 2025.
Nhóm chuyên gia của chứng khoán MB (MBS) cũng dự báo NIM toàn ngành sẽ đi ngang, hoặc giảm nhẹ cho cả năm 2026. Đặc biệt, các ngân hàng vừa và nhỏ chịu sức ép cạnh tranh về việc giảm lãi suất nhằm tăng tín dụng mục tiêu có thể sẽ ghi nhận NIM giảm so với năm 2025.
Với danh mục cho vay tập trung chủ yếu vào các nhóm khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trong các ngành xuất nhập khẩu, khu công nghiệp cùng với đó là cho vay bán lẻ và cho vay mua nhà, MBS cho rằng lãi suất từ các khoản cho vay này sẽ nhích dần lên khi nhu cầu quay trở lại. Các khoản vay trung hạn hết thời gian ưu đãi lãi suất cũng sẽ đóng góp vào mức phục hồi của NIM.
Đồng thời, MBS nhận định lãi suất cho vay sẽ tiếp tục duy trì mặt bằng thấp trong những quý tới tương tự như năm 2025 cùng với lãi suất huy động nhích nhẹ có thể khiến NIM của toàn ngành giảm nhẹ trong nửa đầu năm 2026.
Nửa cuối năm 2026, lãi suất cho vay dự kiến sẽ nhích nhẹ khi các khoản vay trung dài hạn trong năm 2025 bắt đầu hết thời gian ưu đãi lãi suất và thả nổi theo lãi suất huy động. Điều này có thể cải thiện NIM trong nửa cuối năm.
Trong khi đó, theo Chứng khoán Vietcombank (VCBS), mặt bằng NIM toàn ngành sẽ được cải thiện từ 0,5 - 0,7 điểm % nhờ nhu cầu tín dụng mạnh mẽ hơn, cùng với sự chuyển dịch sang cơ cấu cho vay trung dài hạn, bán lẻ và doanh nghiệp SME.
Tuy nhiên, mức phục hồi có sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng, theo đó những ngân hàng tư nhân năng động có lợi thế trong hoạt động huy động vốn với tỷ trọng CASA (tiền gửi không kỳ hạn) cao, có chất lượng tài sản tốt và tệp khách hàng đa dạng sẽ có triển vọng cải thiện NIM sớm hơn nhờ tối ưu hóa sử dụng vốn, nâng cao tỷ trọng tín dụng bán lẻ và doanh nghiệp SME có tỷ lệ sinh lời cao.
Trong khối ngân hàng tư nhân, các ngân hàng có CASA thuộc nhóm dẫn đầu như Techcombank, VIB và MB được đánh giá có nhiều dư địa cải thiện NIM hơn trong năm 2026.
Bên cạnh đó, nhóm ngân hàng có chất lượng tài sản tốt và vị thế dẫn đầu hệ thống, đặc biệt là nhóm ngân hàng quốc doanh (Big 4) trong năm 2026 có khả năng sẽ đẩy mạnh tăng vốn, nhất là khi đã có cơ chế giữ lại lợi nhuận để bổ sung vốn tự có.
Thực tế, tài liệu ĐHĐCĐ thường niên 2026 đã công bố của các ngân hàng thuộc Big 4 cũng hé lộ những kế hoạch tăng vốn “khủng” như VietinBank và BIDV đều có kế hoạch nâng vốn điều lệ lên hơn 105.000 tỷ đồng, Vietcombank cũng dự kiến tăng vốn lên khoảng 94.244 tỷ đồng. Hay một số ngân hàng tư nhân lớn như VPBank cũng dự kiến trình cổ đông kế hoạch nâng vốn lên hơn 106.000 tỷ đồng, trong khi MB vừa thông qua các phương án tăng vốn lên gần 103.000 tỷ đồng.
Việc tăng bộ đệm vốn được đánh giá là cần thiết trong bối cảnh các quy định an toàn vốn ngày càng chặt chẽ hơn. Đây cũng là cơ sở để các ngân hàng duy trì lợi thế cạnh tranh về nguồn vốn so với các ngân hàng khác trong hệ thống, từ đó cải thiện NIM.