Theo báo cáo kết quả kinh doanh vừa công bố, trong năm 2025, tổng thu nhập thuần (TOI) của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã STB) ước đạt 31.075 tỷ đồng, tăng 8,3% so với năm 2024. Trong đó, thu nhập lãi thuần đạt 26.102 tỷ đồng, tăng trưởng 6%; lãi thuần từ hoạt động dịch vụ đạt 2.788 tỷ đồng; lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối 905 tỷ đồng và lãi thuần từ hoạt động khác đạt 1.280 tỷ đồng.
Tuy nhiên, áp lực trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cùng sự gia tăng đột biến của nợ xấu đã khiến lợi nhuận của ngân hàng bị bào mòn. Ước tính cả năm 2025, lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Sacombank đạt 7.628 tỷ đồng, giảm 40% so với năm trước và tương đương khoảng 52% kế hoạch được đại hội đồng cổ đông giao.
Trước đó, Sacombank công bố lợi nhuận trước thuế 9 tháng đầu năm 2025 đạt 10.988 tỷ đồng, tăng 35,8% so với cùng kỳ và thực hiện được 75% kế hoạch lãi trước thuế đặt ra cho cả năm 2025 (14.650 tỷ đồng). Như vậy, với lợi nhuận trước thuế cả năm ước đạt 7.628 tỷ đồng, ngân hàng có thể ghi nhận khoản lỗ khoảng 3.360 tỷ đồng trong quý IV/2025

Phần lớn áp lực lợi nhuận giảm trong quý cuối năm 2025 của Sacombank đến từ chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Cụ thể, cả năm 2025, tổng trích lập dự phòng của ngân hàng là 11.159 tỷ đồng, trong khi lũy kế 9 tháng đầu năm chỉ ở mức hơn 2.151 tỷ đồng. Như vậy, riêng trong quý IV, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của Sacombank đã vọt lên hơn 9.000 tỷ đồng.
Mức trích lập trong quý cuối năm của Sacombank lớn hơn nhiều so với giai đoạn trước, vượt xa mức đỉnh trích lập gần 3.300 tỷ đồng từng ghi nhận trong quý 4/2022 - thời điểm ngân hàng chịu áp lực lớn về trích lập dự phòng cho trái phiếu VAMC.
Áp lực trích lập dự phòng của Sacombank gia tăng trong bối cảnh chất lượng tài sản của ngân hàng vẫn là vấn đề đáng quan tâm. Tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay khách hàng đến cuối năm 2025 đã vọt lên mức 6,31%, trong khi tỷ lệ nợ xấu tính trên tổng mức cấp tín dụng là 4,95% - cao hơn nhiều so với mặt bằng chung của ngành và vượt xa ngưỡng quy định kiểm soát 3% của Ngân hàng Nhà nước.
Nợ xấu tăng cao, song tỷ lệ bao phủ nợ xấu của ngân hàng lại có dấu hiệu mỏng đi, hiện chỉ ở mức 49,2%, thấp hơn nhiều so với mức phổ biến 80% tại các ngân hàng cùng quy mô. Điều này cho thấy Sacombank vẫn đang trong quá trình trích lập và xử lý các tồn đọng kéo dài nhiều năm.

Đáng chú ý, việc mạnh tay trích lập dự phòng trong quý IV/2025 diễn ra cùng thời điểm ngân hàng vừa có những biến động lớn về các nhân sự chủ chốt trong ban điều hành, với sự dẫn đầu của vị “thuyền trưởng” mới là ông Nguyễn Đức Thụy, ở vai trò quyền Tổng Giám đốc.
Theo nhận định của Chứng khoán Vietcap, những thay đổi trong ban điều hành của Sacombank có thể báo hiệu sự đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu và tiến độ bán khối cổ phần của nhóm ông Trầm Bê (tỷ lệ 32,5% vốn của Sacombank, đang được giao VAMC nắm giữ).
Trước đó, tại buổi gặp gỡ nhà đầu tư quý III/2025, Sacombank cho biết quy trình phê duyệt bán vốn có thể lùi sang nửa cuối năm 2026. Tuy nhiên, việc bổ nhiệm ông Nguyễn Đức Thụy làm Quyền Tổng Giám đốc được Vietcap đánh giá có thể là tín hiệu tích cực, với khả năng giao dịch bán vốn hoàn tất sớm hơn kế hoạch. Nguồn tiền thu về sớm sẽ giúp củng cố vốn tự có, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và giảm chi phí huy động cho Sacombank.
Ông Thụy từng để lại dấu ấn tại LPBank khi giảm mạnh tỷ lệ chi phí/thu nhập (CIR) từ trên 50% năm 2021 xuống dưới 30% vào quý III/2025, đồng thời cải thiện thu nhập từ phí và thúc đẩy chuyển đổi số. Dựa trên kinh nghiệm này, Vietcap kỳ vọng ông sẽ đóng vai trò then chốt trong việc tinh gọn bộ máy hoạt động của Sacombank. Trong kịch bản cơ sở, công ty chứng khoán này giả định CIR của Sacombank có thể giảm về khoảng 35% sau khi hoàn tất thương vụ bán vốn.
Trong khi đó, theo báo cáo của Sacombank, đến cuối năm 2025, CIR của ngân hàng ở mức 39,79%, cao hơn so trong khi nhiều ngân hàng đã kéo CIR về vùng 30-35%.
Tại thời điểm cuối năm 2025, tổng tài sản của Sacombank ước đạt 909.084 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu gần 58.933 tỷ đồng. Dư nợ cho vay thị trường 1 ước đạt 612.088 tỷ đồng, trong khi huy động thị trường 1 ước đạt 622.347 tỷ đồng. Tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR thị trường 1) ở mức 98,35%, phản ánh trạng thái huy động đến đâu cho vay đến đó, khiến dư địa điều tiết thanh khoản trở nên căng thẳng.
Ngoài ra, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) chỉ đạt khoảng 15,15%, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân ngành (khoảng 40%). Mức CASA thấp buộc ngân hàng phải phụ thuộc nhiều vào các nguồn vốn huy động có kỳ hạn với chi phí cao hơn, từ đó gây áp lực lên biên lãi ròng (NIM), đang ở mức 3,22%. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) của ngân hàng cũng chỉ đạt 0,72% và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) ở mức 10,52%.