Thông tin tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 10/2026, diễn ra ngày 4/11, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Hồng Vinh cho biết, cả nước hiện đang triển khai 293 dự án nhà ở xã hội với quy mô 363.065 căn.
Trong đó, 128 dự án đã được khởi công mới, cung cấp 183.293 căn, gồm 140.492 căn nhà ở xã hội và 42.801 căn nhà ở cho thuê. 170 dự án hoàn thành với quy mô 46.962 căn trên tổng chỉ tiêu 97.271 căn, tương đương 48% kế hoạch. Dự kiến đến hết năm 2026, số căn hoàn thành đạt 87.601 căn, tương đương 90% kế hoạch đề ra.
Đối với phân khúc nhà ở cho thuê, Thứ trưởng Bộ Xây dựng cho biết, cả nước hiện có 114 dự án nhà ở xã hội đang triển khai có bố trí nhà ở cho thuê, với tổng quy mô 63.970 căn để cho thuê.
Kể từ khi Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh phát triển nhà ở cho thuê vào tháng 6/2026, cả nước đã khởi công thêm 29 dự án với quy mô khoảng 85.594 căn. Trong đó, 33.886 căn dành để cho thuê, chiếm khoảng 40%.
Đến nay, số nhà ở cho thuê hoàn thành đạt 8.314 căn, tương đương 48% kế hoạch. Bộ Xây dựng dự kiến đến cuối năm 2026 sẽ hoàn thành 18.049 căn, vượt 4% chỉ tiêu được giao.
Về giải pháp giúp người thu nhập thấp và công nhân tiếp cận nhà ở xã hội, Thứ trưởng Lê Hồng Vinh đánh giá, mặc dù đã triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ, việc tháo gỡ khó khăn thời gian qua vẫn còn mang tính riêng lẻ, chủ yếu xử lý khi phát sinh kiến nghị.
Để giải quyết vấn đề một cách đồng bộ, Bộ Xây dựng đang chủ trì tham mưu sửa đổi, hoàn thiện Luật Nhà ở, trình Quốc hội tại kỳ họp thứ hai đang diễn ra.
Theo Thứ trưởng, dự thảo luật tập trung vào các cụ thể hóa các cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm người thu nhập thấp, công nhân và các đối tượng thuộc diện thụ hưởng chính sách có thể mua, thuê hoặc thuê nhà dài hạn với mức giá phù hợp.
Trước hết, về đối tượng và điều kiện thụ hưởng, tại các Điều 31, 38, 44, 59, 70, dự thảo Luật Nhà ở đã cụ thể, thể chế hóa rõ nhóm các đối tượng được hưởng chính sách về nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê và nhà lưu trú công nhân; đồng thời quy định cụ thể các điều kiện về nhà ở, thu nhập và thứ tự ưu tiên xét duyệt đối với từng loại hình chính sách.
Thứ hai, về nguyên tắc hỗ trợ và phát triển nhà ở, tại các Điều 32, 33, 45, 60, 62, dự thảo Luật Nhà ở cũng quy định rõ các nguyên tắc thực hiện hỗ trợ nhà ở xã hội, đảm bảo công khai, minh bạch, đúng đối tượng; ưu tiên người có công, người khuyết tật, hộ nghèo; hỗ trợ vay vốn ưu đãi; đồng thời đã thể chế hóa cụ thể cơ chế tạo lập nguồn vốn không thông qua Quỹ nhà ở hoạt động không vì lợi nhuận và tài chính công đoàn cùng với các hình thức quy hoạch, bố trí quỹ đất để phát triển nhà ở cho thuê, nhà ở xã hội và các nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp.
Thứ ba, về chính sách ưu đãi chủ đầu tư để kéo giảm giá thành, tại các Điều 42, 48, 64, dự thảo quy định đồng bộ các chính sách ưu đãi về tài chính dành cho chủ đầu tư dự án nhà ở cho thuê, nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp và nhà ở xã hội như miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; ưu đãi về thuế, tín dụng; hạch toán chi phí đầu tư hạ tầng và xây dựng vào chi phí hợp lý; cũng như cho phép dành một tỉ lệ diện tích đất hoặc diện tích sàn để kinh doanh dịch vụ, thương mại nhằm bù đắp chi phí, giảm chỉ tiêu giá thành và đảm bảo giá bán, giá cho thuê phù hợp với khả năng chi trả của người dân.
Thứ tư, về phương pháp xác định giá và quản lý giao dịch, tại các Điều 37, 43, 67, 68, dự thảo quy định chặt chẽ các nguyên tắc xác định giá bán, giá thuê và giá thuê mua, đảm bảo tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ, lợi nhuận định mức và không tính các khoản ưu đãi của Nhà nước.
Qua đó, bảo đảm mức giá phù hợp với khả năng chi trả của người thu nhập thấp; đồng thời quy định cụ thể các điều kiện quản lý giao dịch như: Mỗi đối tượng chỉ được mua, thuê một căn nhà ở xã hội và quy định thời hạn hạn chế chuyển nhượng trong 5 năm đầu để ngăn ngừa đầu cơ, đảm bảo đúng mục đích an sinh xã hội.