Chọn đúng mắt xích để Việt Nam tiến sâu vào chuỗi giá trị bán dẫn

Việt Nam đang có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn và điện tử toàn cầu, song thay vì theo đuổi tất cả các công đoạn, các chuyên gia cho rằng cần lựa chọn những lĩnh vực phù hợp với năng lực hiện có, từ thiết kế vi mạch, đóng gói tiên tiến đến chuỗi cung ứng thiết bị và các linh kiện phục vụ hạ tầng trí tuệ nhân tạo.

Từ điểm đến sản xuất đến mắt xích quan trọng hơn

Tại tọa đàm “Bán dẫn và điện tử tiên tiến: Đưa Việt Nam trở thành mắt xích chiến lược trong chuỗi giá trị toàn cầu” trong khuôn khổ Tuần lễ Công nghiệp và Công nghệ Việt Nam 2026 (VITW 2026), các chuyên gia cùng chung nhận định Việt Nam đã có sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp nước ngoài trong các công đoạn khác nhau của ngành bán dẫn, đồng thời sở hữu nền tảng sản xuất điện tử và kiểm thử. Tuy nhiên, các nguồn lực này vẫn còn phân tán, chưa hình thành một hệ sinh thái và chuỗi cung ứng có sự liên kết chặt chẽ.

Ông Louis Cao, Giám đốc vận hành (COO) của Mạng lưới Đổi mới Sáng tạo Bán dẫn Việt Nam (Vietnam Semiconductor Innovation Network) cho rằng, mặc dù Việt Nam có nhiều lợi thế và đã có những doanh nghiệp tham gia vào ngành bán dẫn, nhưng nếu đặt trong định hướng xây dựng cộng đồng thì vẫn còn thiếu một kế hoạch đủ rõ ràng.

Để thực hiện kế hoạch đó, theo ông Louis Cao cần tập trung vào hai từ khóa chính. Thứ nhất là community (cộng đồng). Bởi ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều công ty, các nhà đầu tư và doanh nghiệp tư nhân tham gia vào lĩnh vực bán dẫn, thậm chí tham gia khá sâu ở một số công đoạn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này vẫn chưa tạo thành một cộng đồng bán dẫn liên kết chặt chẽ với nhau.

Thứ hai, Việt Nam chưa hình thành được một chuỗi cung ứng (supply chain) bán dẫn có sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp. Khi hình thành được chuỗi cung ứng và có sự hợp tác, kết nối giữa các doanh nghiệp, thì mới có thể tạo ra những tác động lớn hơn đối với ngành bán dẫn tại Việt Nam.

Ở góc độ doanh nghiệp sử dụng chip, ông Nguyễn Văn Trường, Giám đốc Software và AI tại VinMotion nhìn nhận, Việt Nam có 3 lợi thế lớn trong việc phát triển công nghiệp bán dẫn.

Thứ nhất là khả năng sản xuất và phát triển sản phẩm. Ở mảng này, Việt Nam đang làm việc với nhiều công ty hàng đầu thế giới và tham gia vào các kế hoạch phát triển sản phẩm.

Thứ hai là nguồn lao động giá rẻ và đang ngày càng cải thiện. Ngày nay với sự phát triển của robot và trí tuệ nhân tạo (AI) năng lực của kỹ sư Việt Nam ngày càng tốt hơn.

Thứ ba, Việt Nam không chỉ sản xuất, lắp ráp chip, mà còn ứng dụng chip trong nhiều lĩnh vực sản xuất khác nhau. Ông Trường lấy ví dụ như tại Vinmotion, hãng đã có kinh nghiệm trong việc sử dụng chip cho các sản phẩm của mình. Tương tự, Việt Nam cũng có nền sản xuất ô tô và sản xuất các sản phẩm điện tử tiêu dùng sử dụng rất nhiều chip.

Tuy nhiên, bên cạnh các lợi thế, ông Trường chỉ ra hạn chế của Việt Nam là việc tạo ra chuỗi giá trị từ nghiên cứu và phát triển (R&D) cho đến khi tạo ra được các sản phẩm.

“Thực tế ở Việt Nam hiện nay là các nhà nghiên cứu và phát triển chip cứ nghiên cứu và phát triển, trong khi các đơn vị sử dụng chip lại đi theo nhánh khác, tập trung vào việc sử dụng những loại chip đã có sẵn hoặc các linh kiện điện tử đã có trên thị trường. Do đó, vấn đề đặt ra là cần nâng cao được năng lực R&D của các doanh nghiệp trong nước để phát triển các sản phẩm chip và đưa vào những sản phẩm thực tế, qua đó rút ngắn đáng kể quá trình phát triển và tạo ra giá trị ngay trong nước”, ông Trường nói.

Đồng quan điểm, ông Phúc Nguyễn, Giám đốc bộ phận Giải pháp Chìa khóa trao tay SoC và Kinh doanh khu vực Á - Thái Bình Dương (APAC) của GSME cho rằng, hiện tại Việt Nam có rất nhiều doanh nghiệp, tập đoàn nước ngoài đến đầu tư, nhưng làm thế nào để các doanh nghiệp trong nước có thể tham gia sâu hơn và tạo ra giá trị lớn hơn trong chuỗi cung ứng đang là bài toán cần lời giải.

“Chỉ khi các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng thì Việt Nam mới có thể hình thành một chuỗi cung ứng bán dẫn có chiều sâu”, ông Phúc nhấn mạnh.

Trong khi đó, ông Nguyễn Bảo Anh, đồng sáng lập kiêm CEO VSAP Lab nhận định, hiện các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng của Việt Nam đang rất thiếu, cho nên muốn tham gia vào cấp độ cao hơn thì thứ nhất phải chọn hướng đi mang lại giá trị cụ thể và có thể tự làm được. Để làm được như vậy phải có một môi trường hỗ trợ đồng hành cùng doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tự làm được sản phẩm của riêng mình.

Các diễn giả tham gia tọa đàm “Bán dẫn và điện tử tiên tiến: Đưa Việt Nam trở thành mắt xích chiến lược trong chuỗi giá trị toàn cầu”. (Ảnh Hoàng Hà)

Nắm bắt cơ hội từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng

Quảng cáo

Trong bối cảnh sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, thể hiện qua dòng vốn đầu tư, hoạt động sản xuất, kiểm thử, đóng gói cũng như sự dịch chuyển của nguồn nhân lực, ông Louis Cao đánh giá, Việt Nam có thể đón đầu các cơ hội, nhưng không nên đặt mục tiêu làm tất cả các công đoạn. Việc lựa chọn hướng đi cần dựa trên điều kiện khởi đầu của từng địa phương, từng đơn vị và từng doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, là lựa chọn thị trường ngách, thay vì cạnh tranh trực tiếp ở những phân khúc cơ bản mà các quốc gia khác đã phát triển rất mạnh.

Theo ông, có một số hướng đi có thể được xem xét gồm thiết kế vi mạch, các lĩnh vực chuyên biệt phục vụ những ứng dụng đặc thù và đặc biệt là chuỗi cung ứng thiết bị bán dẫn.

Trong đó, phát triển chuỗi cung ứng thiết bị (equipment supply chain), không nhất thiết phải trực tiếp sản xuất chip, mà có thể sản xuất các linh kiện, phụ kiện, bộ phận cho những máy móc được sử dụng trong sản xuất bán dẫn. Đây là lĩnh vực gắn với những nền tảng như kỹ thuật nghiên cứu và kỹ thuật cơ khí chính xác, vốn là những ngành Việt Nam đã có quá trình phát triển.

Chung quan điểm, ông Phúc Nguyễn khẳng định Việt Nam không thể xây dựng toàn bộ hệ thống cung ứng cùng một lúc, mà phải dựa trên thế mạnh và sức mạnh nội tại. Thực tế, Chính phủ có chính sách hỗ trợ chung, nhưng địa phương nào, doanh nghiệp nào có thế mạnh gì thì nên khai thác đúng thế mạnh đó.

“Việt Nam hiện đã trở thành một điểm đến trong quá trình dịch chuyển sản xuất, nhưng chưa phải điểm đến duy nhất và cũng chưa ở vị trí số một. Nếu muốn có vị trí quan trọng hơn trong sự thay đổi của chuỗi cung ứng, Việt Nam phải nâng cao kết nối của chuỗi cung ứng, công nghệ và nguồn nhân lực”, ông Nguyễn Bảo Anh cho biết.

Theo ông, không một quốc gia nào có thể làm tất cả mọi công đoạn trong ngành bán dẫn. Trong khi chuỗi cung ứng công nghệ đang tiếp tục thay đổi, một chu kỳ tăng trưởng mới đang hình thành quanh hạ tầng trí tuệ nhân tạo (AI).

Điều này tạo ra cơ hội ở nhiều nhóm linh kiện phục vụ trung tâm dữ liệu. Không chỉ có bộ xử lý, hệ thống trung tâm dữ liệu còn cần giá đỡ, máy chủ, thiết bị mạng và các thành phần kết nối. Đây có thể là một hướng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng phục vụ hạ tầng trung tâm dữ liệu.

Muốn leo lên chuỗi giá trị, phải tạo ra sản phẩm mới

Để Việt Nam tiến lên những tầng có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị bán dẫn, ông Louis Cao nhấn mạnh vai trò của việc ra mắt sản phẩm mới (NPI).

Để làm được điều này, theo ông cách thứ nhất là thông qua các startup, thúc đẩy phát triển những sản phẩm mới. Những sản phẩm này sẽ trở thành khách hàng cho các doanh nghiệp trong chuỗi bán dẫn, qua đó tạo ra sự tương tác và mở rộng hệ sinh thái.

Cách thứ hai là tận dụng vị thế của người mua (buyer). Ông đề cập đến khái niệm bù trừ quốc tế, theo đó khi mua với khối lượng lớn, bên mua có thể đưa ra yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa hoặc yêu cầu nhà cung cấp đầu tư, phát triển sản phẩm tại thị trường sở tại. Theo hướng này, Việt Nam có thể tận dụng sức mua để thu hút các tập đoàn bán dẫn đầu tư trung tâm nghiên cứu và phát triển, qua đó từng bước hình thành năng lực công nghệ và phát triển sản phẩm tại Việt Nam.

Sản phẩm robot do VinMotion tự phát triển và làm chủ 100% R&D.

Bên cạnh việc lựa chọn các công đoạn trong chuỗi giá trị, nguồn nhân lực và năng lực sản xuất cũng là yếu tố quyết định khả năng đi lên của Việt Nam.

Ông Nguyễn Văn Trường cho rằng robot và AI có thể tạo ra thay đổi đáng kể trong xu hướng phát triển sản xuất hiện nay.

Các nhà máy đang chuyển dần sang mô hình sản xuất thông minh, trong đó AI, robot và các hệ thống tự động hóa được sử dụng ngày càng nhiều. Robot và AI có thể từng bước tham gia vào nhiều công đoạn, từ kiểm tra chất lượng linh kiện, cho đến lập kế hoạch sản xuất, bảo trì, bảo dưỡng và thay thế một số công đoạn sản xuất truyền thống.

Theo ông Trường, Việt Nam có một hạn chế lớn là chưa có kinh nghiệm sản xuất hàng chục năm như một số quốc gia đi trước. Tuy nhiên, nếu tận dụng tốt robot và AI, Việt Nam có thể rút ngắn quá trình tích lũy kinh nghiệm, đồng thời hỗ trợ đào tạo và nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động.

Ngoài ra, ông Trường cho rằng, muốn làm chủ được năng lực sản xuất, năng lực làm chủ công nghệ thì chất lượng nguồn lao động phải được nâng cao. Các trường đại học cần đào tạo các kỹ sư có chuyên môn sâu, đồng thời phải tạo ra đội ngũ kỹ sư vừa hiểu sâu về một lĩnh vực vừa biết mở rộng khả năng vận dụng nhiều công nghệ khác nhau.

“Điều quan trọng không chỉ là có thêm nhân lực, mà là phải tạo ra được lực lượng lao động có khả năng sử dụng công nghệ, vận hành hệ thống và tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn. Đây sẽ là một trong những yếu tố quyết định khả năng Việt Nam tiến lên trong chuỗi giá trị sản xuất và bán dẫn”, ông Trường nhấn mạnh.

Theo doanhnghiepkinhtexanh.vn Sao chép

Cùng chuyên mục Tiêu điểm

Y tế tư nhân sau cuộc đua xây bệnh viện: Bài toán hiệu quả mới bắt đầu

Sau nhiều năm mở rộng mạng lưới, các doanh nghiệp y tế tư nhân đang chuyển sang một giai đoạn cạnh tranh mới, trong đó quy mô không còn là lợi thế duy nhất. Khả năng khai thác công suất, phát triển chuyên khoa, kiểm soát chi phí và xây dựng hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe sẽ quyết định hiệu quả của những khoản đầu tư hàng nghìn tỷ đồng.

Chủ chuỗi bệnh viện tư lớn nhất Việt Nam: Do người Singapore sở hữu, lãi ròng 2.300 tỷ đồng trong 4 năm Gần hai thập niên xã hội hóa: Bệnh viện tư Việt Nam đã lớn đến đâu? Bệnh viện tư: Doanh thu lớn đã đủ có lãi?

Hà Nội: Mãn nhãn với những màn trình diễn pháo hoa đỉnh cao do Sun Group tài trợ tại ba trận địa

Đêm 10/10, hàng vạn người dân Thủ đô và du khách đã vỡ òa cảm xúc khi chứng kiến những màn trình diễn pháo hoa nghệ thuật do Tập đoàn Sun Group tài trợ tại 3 địa điểm: Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây và Hồ Văn Quán. Gần 7.000 đơn vị pháo hoa và giàn hỏa thuật đồng loạt bung nở đã mang đến một bữa tiệc thị giác mãn nhãn, viết tiếp những khoảnh khắc tự hào trong ngày hội lớn của Thủ đô.

Ra mắt tháp căn hộ Sun Group Nha Trang: "Trái tim" của đảo lễ hội thuộc Charmora City Sun Group được chọn làm nhà đầu tư dự án hơn 30.000 tỷ đồng cải tạo, phát huy giá trị Hồ Tây Sun Group đề xuất dự án Safari đầu tiên tại Ba Vì, vốn 10.000 tỷ đồng

Gần hai thập niên xã hội hóa: Bệnh viện tư Việt Nam đã lớn đến đâu?

Cuối tháng 7 vừa qua, một bệnh viện mới mở cửa tại Lạng Sơn sau hai năm xây dựng. Bệnh viện TNH Lạng Sơn có 300 giường, diện tích sàn hơn 32.000 m², tổng vốn đầu tư gần 900 tỷ đồng. Đây là bệnh viện thứ tư trong hệ thống TNH và cũng là bệnh viện đa khoa tư nhân đầu tiên của tỉnh.

Bệnh viện Quốc tế Thái Nguyên (TNH) bị phạt và truy thu thuế 1,5 tỷ đồng Chủ chuỗi bệnh viện tư lớn nhất Việt Nam tiếp tục lãi lớn: Lợi nhuận 6 tháng tăng gấp đôi, lãi tổng cộng 1.900 tỷ từ đầu năm 2022 Bệnh viện của Chủ Tịch Trầm Bê: Lợi nhuận sau thuế tăng gấp 3, mạnh tay vay vốn ưu đãi gấp 6 lần từ HFIC

Lần đầu Việt Nam được nâng xếp hạng tín nhiệm lên nhóm Đầu tư bởi tổ chức Nhật Bản

Ngày 8/10, một tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế của Nhật Bản đưa Việt Nam vào nhóm Đầu tư, đồng thời đánh giá cao chương trình cải cách kinh tế được gọi là “Đổi mới 2.0”.

Việt Nam chính thức cán mốc 14 triệu tài khoản chứng khoán Buồn: Khối ngoại bán ròng hơn 100.000 tỷ đồng trên TTCK Việt Nam từ đầu năm

TP. Hồ Chí Minh đề xuất cơ chế phát hành trái phiếu tại VIFC

UBND TP. Hồ Chí Minh đang lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Nghị quyết của HĐND Thành phố quy định việc phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam (VIFC), nhằm tạo thêm kênh huy động vốn cho các dự án trọng điểm.

Vietcombank lên kế hoạch phát hành hơn 1 tỷ cổ phiếu và “đặt chân” vào VIFC TP. Hồ Chí Minh vươn lên hạng 67 trên bảng xếp hạng trung tâm tài chính toàn cầu Chứng khoán TCBS (TCX): "Đáy thanh khoản xuất hiện trước đáy giá 2-3 tháng"

Ngành xi măng tìm lời giải cho bài toán phát thải và hạn ngạch carbon

Khi kiểm kê khí nhà kính trở thành yêu cầu bắt buộc, ngành xi măng đang đứng trước sức ép kép: phải xây dựng hệ thống dữ liệu phát thải chính xác, đồng thời tìm giải pháp cắt giảm lượng khí thải trong bối cảnh công nghệ còn nhiều giới hạn.

Chỉ rõ nguyên nhân Dự án nâng tĩnh không 11 cầu phía Nam chậm tiến độ: Vướng mặt bằng, khan hiếm vật liệu và nhà thầu yếu Chứng khoán TCBS (TCX): "Đáy thanh khoản xuất hiện trước đáy giá 2-3 tháng"

Triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2027

Kinh tế Việt Nam bước vào quý IV/2026 với các động lực tăng trưởng từ sản xuất, đầu tư, FDI và tiêu dùng tiếp tục được duy trì, tạo nền tảng cho năm 2027. Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng năm tới vẫn phụ thuộc nhiều vào thương mại toàn cầu, giá năng lượng, điều kiện tài chính quốc tế cũng như khả năng cải thiện năng suất và hiệu quả đầu tư trong nước.

Chứng khoán TCBS (TCX): "Đáy thanh khoản xuất hiện trước đáy giá 2-3 tháng" Cổ phiếu Chứng khoán và Khoáng sản giao dịch tương phản

Thu ngân sách 9 tháng đạt 86,5% dự toán, tăng 12,1% so với cùng kỳ

Bộ Tài chính thông tin, trong 9 tháng năm 2026, thu ngân sách nhà nước (NSNN) đạt 2.187,3 nghìn tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, chi NSNN đạt 1.873,7 nghìn tỷ đồng, bằng 59,3% dự toán, tăng 14,5% so với cùng kỳ.

Trước thềm sáp nhập, một tỉnh bất ngờ thu ngân sách gần 21.000 tỷ đồng chỉ trong 6 tháng, đạt hơn 85% dự toán năm Mới 6 tháng đã thu vượt dự toán, tỉnh nhỏ nhất Việt Nam sau sáp nhập sẽ vào câu lạc bộ thu ngân sách 100.000 tỷ đồng?

WB: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam được thúc đẩy bởi sản xuất, xuất khẩu và đầu tư công

Ngân hàng Thế giới (WB) nâng 1,1 điểm phần trăm dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 nhờ đà tăng của sản xuất, xuất khẩu công nghệ cao và hàng hóa liên quan đến AI, cùng với sự gia tăng đầu tư công. Tuy nhiên, cũng lưu ý lạm phát và mức độ phụ thuộc vào nhu cầu AI toàn cầu đang đặt ra những rủi ro đáng lưu ý đối với triển vọng tăng trưởng.

Một chỉ báo cho thấy chứng khoán Việt Nam đang ảm đạm hơn những gì nhìn từ thanh khoản Trước PNJ, một cổ phiếu Việt Nam cũng từng khiến loạt quỹ ngoại vất vả “tháo chạy”

9 tháng năm 2026: FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, cao nhất 5 năm

9 tháng năm 2026, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất của 9 tháng trong 5 năm qua. Trong khi đó, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, với công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục thu hút lượng vốn lớn.

FDI 8 tháng năm 2026 vượt 40,6 tỷ USD, vốn thực hiện đạt kỷ lục 5 năm Miền Bắc thu hút hơn 80% vốn FDI sản xuất mới nửa đầu năm 2026 Nhà xưởng xây sẵn đang dẫn dắt làn sóng FDI sản xuất mới

Muốn phá thế độc quyền xăng dầu, cần giữ quyền mua bán cho thương nhân phân phối

Đề xuất cấm thương nhân phân phối mua bán lẫn nhau đang gây tranh luận khi doanh nghiệp cho rằng quy định này có thể làm tăng phụ thuộc vào thương nhân đầu mối, vi phạm các quy định hiện hành. Giữ quyền mua bán, theo họ, sẽ mở thêm lựa chọn nguồn hàng và tạo sức ép cạnh tranh trên thị trường xăng dầu.

Giá xăng dầu hôm nay 17/9: Đồng loạt tăng mạnh, diesel lên gần 30.000 đồng/lít Giá xăng dầu hôm nay 24/9: Xăng E10 RON95 tăng hơn 1.450 đồng/lít

CPI tháng 9 tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, 9 tháng tăng 4,52%

CPI tháng 9 tăng 0,62% so với tháng trước và tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý III, CPI bình quân tăng 4,8% so với cùng kỳ, bình quân 9 tháng năm 2026, CPI tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước.

CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2026 đạt 4,38%, lạm phát tăng 4,12% Giá xăng dầu và lương thực, thực phẩm cùng “hạ nhiệt” kéo CPI tháng 7 giảm 0,12% Chỉ số S&P 500 tăng điểm sau báo cáo CPI của Mỹ