Ngành xi măng tìm lời giải cho bài toán phát thải và hạn ngạch carbon

Khi kiểm kê khí nhà kính trở thành yêu cầu bắt buộc, ngành xi măng đang đứng trước sức ép kép: phải xây dựng hệ thống dữ liệu phát thải chính xác, đồng thời tìm giải pháp cắt giảm lượng khí thải trong bối cảnh công nghệ còn nhiều giới hạn.

Ngành xi măng tìm lời giải cho bài toán phát thải và hạn ngạch carbon
Doanh nghiệp xi măng trước yêu cầu kiểm kê và quản trị phát thải. (Ảnh minh hoạ)

Dữ liệu chính xác quyết định chất lượng kiểm kê

Theo Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg về Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê, lĩnh vực xây dựng hiện có 411 cơ sở thuộc diện áp dụng. Trong đó, các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất, với 39,58%; tiếp đến là sản xuất xi măng, chiếm 22,69%, tương đương gần 90 cơ sở.

Xi măng cũng nằm trong nhóm ngành được lựa chọn thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cùng với nhiệt điện và sắt thép. Theo Quyết định số 263/QĐ-TTg, tổng hạn ngạch thí điểm cho giai đoạn 2025-2026 được phân bổ cho 110 doanh nghiệp, với ngành xi măng chiếm khoảng 28,8% tổng hạn ngạch quốc gia năm 2025 và 28,1% năm 2026. Đáng chú ý, có 51/61 doanh nghiệp xi măng trong nước thuộc phạm vi áp dụng trong giai đoạn này.

Trong bối cảnh đó, kiểm kê khí nhà kính không còn đơn thuần là một yêu cầu báo cáo. Đây là cơ sở để doanh nghiệp xác định lượng phát thải thực tế, nhận diện những công đoạn phát thải lớn và lựa chọn giải pháp giảm phát thải phù hợp. Tuy nhiên, muốn có một báo cáo đáng tin cậy, trước hết doanh nghiệp phải giải quyết được bài toán dữ liệu.

Theo lộ trình quản lý phát thải khí nhà kính, từ ngày 25/9, thêm hàng nghìn cơ sở trên cả nước thuộc diện phải thực hiện kiểm kê. Các cơ sở phải từng bước hoàn thiện hệ thống dữ liệu để phục vụ kiểm kê và đáp ứng yêu cầu báo cáo theo quy định, với thời hạn hoàn thành báo cáo kiểm kê cấp cơ sở trước ngày 31/3/2027.

Thực tế cho thấy, việc thu thập và chuẩn hóa số liệu vẫn là một trong những khó khăn lớn. Các dữ liệu được lấy từ hóa đơn điện, nhiên liệu, nguyên liệu hoặc ước tính thủ công nếu không được kiểm soát chặt có thể làm sai lệch kết quả cuối cùng. Trong khi đó, một số doanh nghiệp đã chủ động đầu tư hệ thống đo lường để xây dựng nguồn dữ liệu đáng tin cậy, nhưng chi phí đầu tư thiết bị và duy trì hệ thống vẫn là vấn đề cần cân nhắc.

Kinh nghiệm từ một doanh nghiệp cho thấy, dữ liệu kiểm kê chính xác có thể trở thành cơ sở trực tiếp cho những quyết định giúp giảm cả chi phí và phát thải. Sau khoảng 30 năm sử dụng lò hơi đốt dầu DO, doanh nghiệp này chuyển sang nhiên liệu sinh khối (biomass) dựa trên kết quả kiểm kê khí nhà kính. Nhờ thay đổi nhiên liệu, chi phí nhiên liệu giảm khoảng 30%, trong khi phát thải từ lò hơi giảm gần 95%. Điều này cho thấy kiểm kê không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của cơ quan quản lý. Khi số liệu đủ tin cậy, doanh nghiệp có thể nhìn rõ nguồn phát thải lớn nhất trong hoạt động sản xuất, từ đó xác định đúng nơi cần đầu tư và tránh những khoản chi không cần thiết.

Đối với ngành xi măng, yêu cầu này càng quan trọng bởi đặc thù sản xuất có nhiều nguồn phát thải khác nhau. Tại hội thảo tham vấn quy trình kiểm kê khí nhà kính và MRV (đo đạc, báo cáo, thẩm định) lĩnh vực sản xuất xi măng, các chuyên gia đã tập trung trao đổi về cách xác định phạm vi kiểm kê, nguồn phát thải cũng như yêu cầu đối với dữ liệu tại các cơ sở.

Một trong những bước đầu tiên là xác định rõ ranh giới tổ chức và ranh giới hoạt động. Phạm vi cần xem xét có thể bao gồm các công đoạn từ khai thác nguyên liệu, nghiền, sấy, nung clinker đến hệ thống điện phụ trợ, đóng gói và thu hồi nhiệt thừa, tùy theo phạm vi kiểm soát hoặc sở hữu của từng cơ sở.

Theo đại diện Trung tâm Môi trường và Cơ khí xây dựng (Viện Vật liệu xây dựng), phần lớn phát thải trong nhà máy xi măng, khoảng 50-60%, đến từ phản ứng hóa học khi nung đá vôi để tạo clinker. Khoảng 30-40% tiếp theo đến từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch nhằm duy trì nhiệt độ cao cho lò nung. Trong khi đó, điện sử dụng cho máy đập, nghiền nguyên liệu và nghiền xi măng là nguồn phát thải gián tiếp và chiếm tỷ trọng nhỏ hơn.

Theo đó, các nguồn phát thải có thể được phân thành phạm vi 1, gồm phát thải trực tiếp từ đốt nhiên liệu tĩnh tại, thiết bị cơ giới nội bộ và quá trình nung phân hủy nguyên liệu chứa gốc cacbonat; phạm vi 2 là phát thải gián tiếp từ điện lưới; còn phạm vi 3 bao gồm những nguồn phát thải gián tiếp khác như clinker mua ngoài hoặc vận chuyển thuê ngoài.

Quảng cáo

Việc phân định rõ các nguồn này cần được thực hiện theo Thông tư số 13/2024/TT-BXD và Tiêu chuẩn ISO 19694-3. Đây là tiền đề để số liệu được thu thập thống nhất, tránh bỏ sót hoặc tính trùng nguồn phát thải.

Độ chính xác của báo cáo không chỉ phụ thuộc vào phép tính cuối cùng mà còn nằm ở khả năng chứng minh nguồn gốc của từng con số. Số liệu về than, dầu, điện năng hay nguyên liệu đầu vào cần đi kèm hóa đơn, biên bản giao nhận và hồ sơ kiểm định định kỳ của các thiết bị đo như cân băng, cân ô tô, công tơ điện.

Thực tế triển khai tại một số địa phương cho thấy, không ít cơ sở đã có thiết bị đo đạt chuẩn nhưng vẫn gặp vấn đề về dữ liệu do thiếu hồ sơ kiểm định hoặc chưa phân tách rõ các loại nhiên liệu có nhiệt trị khác nhau. Vì vậy, chuẩn hóa hồ sơ, sử dụng đúng hệ số phát thải lưới điện của năm báo cáo và thực hiện kiểm tra chéo trước khi gửi cơ quan quản lý là những yêu cầu cần được doanh nghiệp chú trọng.

Xi măng đối mặt bài toán giảm phát thải khó tránh

Nếu dữ liệu là nền tảng của kiểm kê thì đặc thù công nghệ lại là yếu tố quyết định khả năng giảm phát thải của ngành xi măng. Sản xuất xi măng được đánh giá là một trong những lĩnh vực có lượng phát thải CO2 lớn, chủ yếu do công đoạn sản xuất clinker.

Theo số liệu được Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) nêu tại hội thảo về vật liệu xây dựng xanh, một tấn clinker phát sinh khoảng 525 kg CO2, tương đương khoảng 55% tổng lượng phát thải. Đây là phần phát thải gắn với phản ứng hóa học trong quá trình nung nguyên liệu và được xem là lượng phát thải khó tránh hoàn toàn.

Sản xuất clinker là nguồn phát thải lớn, chiếm khoảng 55% tổng phát thải của ngành xi măng.

Ông Lương Đức Long, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam cho hay: "Giảm phát thải trong sản xuất của ngành xi măng còn rất nhiều thách thức. Mặc dù đã phân bổ chỉ tiêu phát thải cho từng doanh nghiệp, nhưng khả năng cắt giảm trong thực tế còn hạn chế do ràng buộc về công nghệ". Thực tế, công nghệ sản xuất clinker trên thế giới đã tiến gần giới hạn tối ưu về hiệu suất. Vì vậy, dù doanh nghiệp tiếp tục cải thiện vận hành, khả năng cắt giảm sâu lượng phát thải từ chính phản ứng hóa học vẫn bị giới hạn.

Một hướng được đặt ra là giảm tỷ lệ clinker trong sản phẩm xi măng thông qua việc tăng sử dụng các loại phụ gia như tro bay, xỉ lò cao. Tuy nhiên, giải pháp này vẫn phải tính đến chất lượng sản phẩm, giá thành và khả năng đáp ứng của thị trường. Trong khi đó, thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) hiện chưa phải phương án dễ triển khai do chi phí quá cao. Theo thông tin được đưa ra tại hội thảo, chi phí chôn lấp một tấn CO2 có thể lên tới 132 USD, gần gấp bốn lần giá xuất khẩu một tấn clinker thành phẩm. Ông Long cho rằng: "Nếu mất số tiền trên để chôn lấp khí thải, chắc chắn ngành xi măng phải đóng cửa".

Do đó, trong ngắn hạn, các giải pháp phù hợp hơn với điều kiện sản xuất hiện nay được ngành xi măng xác định là tối ưu hóa nhiệt và điện, tận dụng nhiệt thải, tăng sử dụng nhiên liệu thay thế và đẩy mạnh số hóa trong vận hành. Trong đó, sử dụng rác làm nhiên liệu thay thế trong lò nung clinker đang được nhiều doanh nghiệp triển khai, vừa góp phần giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch, vừa có thể tiết giảm chi phí sản xuất.

Từ góc độ quản trị, việc kiểm kê chính xác cũng giúp doanh nghiệp tránh hai rủi ro trái chiều. Nếu lượng phát thải bị tính thấp hơn thực tế, doanh nghiệp có thể đối mặt với nguy cơ bị xử phạt và thu hồi hạn ngạch được cấp. Ngược lại, nếu số liệu bị tính cao hơn thực tế, doanh nghiệp có thể phải mua thêm hạn ngạch, làm tăng chi phí và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh. Vì vậy, kiểm kê khí nhà kính cần được nhìn nhận như một công cụ quản trị thay vì chỉ là nghĩa vụ hành chính. Khi xây dựng được hệ thống dữ liệu minh bạch, doanh nghiệp có thể xác định chính xác dấu chân carbon, kiểm soát chi phí năng lượng và chủ động hơn trước các yêu cầu của thị trường carbon.

Đây cũng là bước chuẩn bị cần thiết khi Việt Nam hướng tới hình thành thị trường carbon trong nước từ năm 2029, sau giai đoạn thí điểm. Với ngành xi măng, nơi còn tồn tại những giới hạn công nghệ trong giảm phát thải, dữ liệu chính xác càng có ý nghĩa trong việc xác định phần phát thải có thể cắt giảm, phần khó tránh và mức đầu tư cần thiết cho từng giải pháp.

Về lâu dài, năng lực kiểm kê và quản trị dữ liệu sẽ không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu pháp luật mà còn hỗ trợ nâng cao hiệu quả sản xuất, tiếp cận nguồn tài chính xanh và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Theo doanhnghiepkinhtexanh.vn Sao chép

Cùng chuyên mục Kinh tế - Đầu tư

TP. Hồ Chí Minh đề xuất cơ chế phát hành trái phiếu tại VIFC

UBND TP. Hồ Chí Minh đang lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Nghị quyết của HĐND Thành phố quy định việc phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam (VIFC), nhằm tạo thêm kênh huy động vốn cho các dự án trọng điểm.

Vietcombank lên kế hoạch phát hành hơn 1 tỷ cổ phiếu và “đặt chân” vào VIFC TP. Hồ Chí Minh vươn lên hạng 67 trên bảng xếp hạng trung tâm tài chính toàn cầu Chứng khoán TCBS (TCX): "Đáy thanh khoản xuất hiện trước đáy giá 2-3 tháng"

Ngành xi măng tìm lời giải cho bài toán phát thải và hạn ngạch carbon

Khi kiểm kê khí nhà kính trở thành yêu cầu bắt buộc, ngành xi măng đang đứng trước sức ép kép: phải xây dựng hệ thống dữ liệu phát thải chính xác, đồng thời tìm giải pháp cắt giảm lượng khí thải trong bối cảnh công nghệ còn nhiều giới hạn.

Chỉ rõ nguyên nhân Dự án nâng tĩnh không 11 cầu phía Nam chậm tiến độ: Vướng mặt bằng, khan hiếm vật liệu và nhà thầu yếu Chứng khoán TCBS (TCX): "Đáy thanh khoản xuất hiện trước đáy giá 2-3 tháng"

Triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2027

Kinh tế Việt Nam bước vào quý IV/2026 với các động lực tăng trưởng từ sản xuất, đầu tư, FDI và tiêu dùng tiếp tục được duy trì, tạo nền tảng cho năm 2027. Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng năm tới vẫn phụ thuộc nhiều vào thương mại toàn cầu, giá năng lượng, điều kiện tài chính quốc tế cũng như khả năng cải thiện năng suất và hiệu quả đầu tư trong nước.

Chứng khoán TCBS (TCX): "Đáy thanh khoản xuất hiện trước đáy giá 2-3 tháng" Cổ phiếu Chứng khoán và Khoáng sản giao dịch tương phản

Việt Nam được dự báo tiếp tục dẫn đầu tăng trưởng Đông Nam Á

6 nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á được dự báo tăng trưởng bình quân 4,8% mỗi năm trong thập kỷ tới. Trong bối cảnh triển vọng khu vực ngày càng phân hóa, Việt Nam tiếp tục được đánh giá là nền kinh tế có triển vọng tăng trưởng cao nhất, nhờ vị thế trong chuỗi cung ứng, khả năng thu hút đầu tư và dư địa ứng dụng công nghệ.

Mặt hàng tỷ đô của Việt Nam gặp ‘cơn bão kép’ tại Mỹ: Xuất khẩu tháng 8 giảm gần 55%, nguy cơ chịu ‘thuế chồng thuế’ Bộ Tài chính sắp tổ chức đợt tiếp xúc nhà đầu tư không kèm phát hành trái phiếu quốc tế

Trung tâm tài chính quốc tế: Vừa hoàn thiện thể chế, vừa triển khai sản phẩm cụ thể

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chỉ đạo, điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế không chờ đến khi hoàn thiện tất cả các điều kiện mới triển khai mà cần đồng thời hoàn thiện thể chế và lựa chọn một số sản phẩm đã có cung, có cầu để làm việc, đàm phán với các nhà đầu tư. Tinh thần là vừa chạy vừa xếp hàng, không chờ nữa.

DNSE “đánh tiếng” lập công ty tại trung tâm tài chính quốc tế Khai trương trụ sở kinh doanh tại VIFC-HCMC: Bước chuyển sang thị trường phía Nam của ngân hàng MBV

Luật Dầu khí sửa đổi mở rộng quyền cho PetroVietnam, tạo động lực cho các dự án mới

Với 473/475 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi), trong đó đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho Bộ Công Thương và PetroVietnam, đồng thời bổ sung cơ chế ưu đãi cho mỏ nhỏ, mỏ cận biên, dự án nước sâu, xa bờ và mở rộng khung pháp lý cho lưu trữ CO2.

'Đại gia' dầu khí lớn nhất sàn chứng khoán lãi hơn 8.000 tỷ đồng sau 6 tháng, hoàn thành trên 70% kế hoạch năm Lợi nhuận sau thuế của Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 giảm hơn 95 tỷ đồng sau soát xét

Công nghiệp hàng hải tạo nền tảng phát triển kinh tế biển

Với lợi thế về không gian biển, đường bờ biển và vị trí trên các tuyến hàng hải quốc tế, Việt Nam có dư địa lớn để phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, để chuyển tiềm năng thành năng lực cạnh tranh, cần xây dựng nền công nghiệp hàng hải đủ mạnh và làm chủ công nghệ, hạ tầng, phương tiện phục vụ biển.

Cổ đông ngoại muốn thoái vốn tại Vinamilk, SSJ Consulting bán hết cổ phiếu GMD TCX - Bluechip VN30 với tầm nhìn xây dựng nền tảng Wealtech toàn diện

Phó Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước: Giá trị của tài sản mã hóa phải bắt nguồn từ tài sản có thật

Nhấn mạnh nguyên tắc công nghệ không làm thay đổi bản chất pháp lý của tài sản, Phó Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) Bùi Hoàng Hải cho biết, cơ quan quản lý sẽ phối hợp liên ngành chặt chẽ để giám sát thị trường tài sản mã hóa dựa trên dòng tiền minh bạch và hạ tầng an toàn, kiên quyết phòng ngừa rủi ro cho nhà đầu tư từ sớm, từ xa.

Phó Chủ tịch UBCKNN: Tài sản mã hóa đang dần trở thành trụ cột mới của kinh tế số Tiền mã hóa lao dốc dưới sức ép từ địa chính trị và AI

3 khu nhà giàu tại Hà Nội nộp 28.000 tiền sử dụng đất

Hà Nội thu gần 54.000 tỷ đồng tiền sử dụng đất nửa đầu năm 2026. Trong đó, 3 dự án bất động sản lớn đã đóng góp gần 28.000 tỷ đồng tiền sử dụng đất, tương đương hơn một nửa tổng số thu từ khoản này của Hà Nội.

91% khách mua sẵn sàng chi thêm tiền cho bất động sản gần hạ tầng trọng điểm Dự án của FLC tại Quảng Trị nhận tin vui

Nghịch lý ngành xây dựng: Việc nhiều nhưng nhà thầu "ngại" làm vì đơn giá lạc hậu

Trong bối cảnh hàng loạt siêu dự án hạ tầng đang đồng loạt triển khai, thị trường xây dựng lại chứng kiến một nghịch lý: Nhiều dự án đầu tư công chật vật tìm nhà thầu. Bên cạnh đó là cuộc khủng hoảng thiếu hụt nhân lực khi nguồn lao động hiện tại...

Tuyến metro 65.000 tỷ đồng kết nối thành phố giàu nhất Việt Nam đến sân bay 16 tỷ USD có diễn biến mới Quy hoạch TOD metro số 2 TP.HCM: Nhà nằm trong “vùng tím” nên làm gì?

Việt Nam chính thức có thị trường carbon, thúc đẩy mô hình tăng trưởng bền vững

Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức đi vào hoạt động từ ngày 29/6, đánh dấu bước tiến quan trọng trong lộ trình phát triển kinh tế xanh. Thị trường mới được kỳ vọng sẽ thúc đẩy doanh nghiệp giảm phát thải, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực

Thị trường carbon rừng: Hướng tới khung pháp lý hoàn chỉnh tại Việt Nam Loạt công ty chứng khoán đầu tiên gia nhập thị trường carbon Việt Nam

Xuân Thiện đề xuất siêu tổ hợp 132.600 ha tại Cần Thơ, kỳ vọng hình thành trung tâm logistics mới của ĐBSCL

Tập đoàn Xuân Thiện vừa đề xuất đầu tư tổ hợp cảng nước sâu, công - nông nghiệp kết hợp đô thị - du lịch quy mô khoảng 132.600 ha tại Cần Thơ. Với hạt nhân là dự án lấn biển khu vực Trần Đề - Cù Lao Dung, đây có thể trở thành một trong những dự án có quy

VII Holding mua hơn 302 triệu cổ phiếu HUT, Chủ tịch Tập đoàn Xuân Thiện thành cổ đông lớn công ty chứng khoán Chủ tịch Tập đoàn Xuân Thiện trở thành cổ đông lớn nhất tại XTSC

ADB dự kiến rót 4,5 tỷ USD tài trợ cho Việt Nam giai đoạn 2026

Trong cuộc hội kiến với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Chủ tịch ADB Masato Kanda khẳng định cam kết đồng hành cùng "Kỷ nguyên vươn mình của Việt Nam" bằng danh mục dự án chiến lược trị giá tới 6 tỷ USD, tập trung vào hạ tầng, năng lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

ADB, BIDV và các đối tác công bố khoản vay bền vững 250 triệu USD ADB công bố siêu dự án hạ tầng số và năng lượng 70 tỷ USD