Kỳ vọng về những thay đổi lớn của Fed với tân Chủ tịch Kevin Warsh

Ông Kevin Warsh đã trở lại ngân hàng trung ương Mỹ với tư cách là người đứng đầu cùng một kế hoạch cải cách sâu rộng mà những kết quả có thể không dễ đạt được trong một sớm một chiều.

Ông Kevin Warsh. (Ảnh: Getty Images/TTXVN)

15 năm sau khi rời Cục Dự trữ liên bang (Fed) để phản đối chương trình mua trái phiếu quy mô lớn, ông Kevin Warsh đã trở lại ngân hàng trung ương Mỹ với tư cách là người đứng đầu, cùng với một kế hoạch cải cách sâu rộng mà những kết quả có thể không dễ đạt được trong một sớm một chiều.

Những chỉ trích của ông Warsh đối với Fed trải rộng trên mọi khía cạnh, từ cách giám sát lạm phát đến sự sẵn sàng cứu trợ thị trường và chiến lược truyền thông của ngân hàng trung ương.

Và những thay đổi có thể không chỉ liên quan đến cải cách kỹ thuật đối với các phân tích kinh tế của Fed mà còn là những thay đổi nhạy cảm trong cách ngân hàng này giao tiếp với thị trường tài chính và công chúng nói chung.

Ông Warsh có thể giảm các cuộc họp báo, đưa Fed quay trở lại hình thức ngân hàng trung ương thận trọng và kín đáo hơn như trước cuộc suy thoái và khủng hoảng tài chính năm 2007-2009, vốn đã tạo ra xu hướng thiên về giải thích công khai hơn và định hướng cho thị trường về lộ trình chính sách.

Các cựu nhân viên và quan chức của Fed cho rằng các bước đi đầu tiên có khả năng nhất là ông Warsh sẽ ủy nhiệm một loạt đánh giá nội bộ, tiếp theo là mở các cuộc tranh luận tại Ủy ban Thị trường mở liên bang và sau đó là những thay đổi tiềm năng trong các vấn đề như quy định về tỷ lệ dự trữ của các ngân hàng, một giải pháp khả thi để thu hẹp bảng cân đối kế toán hoặc kết hợp những số liệu lạm phát khác nhau tại các cuộc thảo luận chính sách.

Ông Warsh cũng cho biết ông muốn thay đổi một số công cụ truyền thông lâu đời như Bản tóm tắt dự báo kinh tế hàng quý (SEP), trong đó bao gồm biểu đồ thể hiện dự báo lãi suất.

Nhưng cả SEP do Fed ban hành và các cuộc họp báo do người đứng đầu Fed chủ trì đều trở thành những công cụ mạnh mẽ để định hình kỳ vọng của công chúng.

ttxvn-fed.jpg.avif
Trụ sở Cục dự trữ liên bang Mỹ ở Washington DC. (Ảnh: THX/TTXVN)

Trong một cuộc khảo sát gần đây của Viện Brookings đối với các chuyên gia Fed thuộc khu vực tư nhân và học thuật, gần như tất cả 29 người được hỏi đều coi cuộc họp báo sau cuộc họp là "hữu ích hoặc cực kỳ hữu ích" và hơn một nửa nói điều tương tự về SEP và biểu đồ dự báo lãi suất.

Quảng cáo

Theo cựu Chủ tịch Fed chi nhánh St. Louis, James Bullard, hiệu trưởng Trường Kinh doanh Mitch Daniels thuộc Đại học Purdue, các cuộc họp báo nói riêng là "một tiêu chuẩn quốc tế" để giải thích những quyết định chính sách và triển vọng kinh tế.

Trong các vấn đề khác, tân Chủ tịch Fed đã đưa ra các ý tưởng về cách giảm quy mô bảng cân đối kế toán, nhưng có sự hoài nghi về quan điểm của ông cho rằng việc giảm lượng trái phiếu nắm giữ sẽ cho phép cắt giảm lãi suất.

Trong khi đó, nhận định của ông Warsh về tác động của việc cải thiện năng suất đối với lạm phát cũng được chấp nhận rộng rãi về mặt lý thuyết, nhưng vẫn còn vấn đề đặt ra về khung thời gian liên quan và những hệ lụy đối với lãi suất.

Chủ tịch Fed chi nhánh Chicago, Austan Goolsbee, tuần trước đã đưa ra một kịch bản khác, trong đó cuộc cách mạng AI được dự đoán rộng rãi đến mức mọi người sẽ bắt đầu chi tiêu khoản lợi nhuận dự kiến từ cổ phiếu và tài sản, đẩy lạm phát lên và buộc Fed phải tăng lãi suất.

Sự khác biệt về quan điểm không nằm ở việc AI có ý nghĩa gì đối với nền kinh tế mà nằm ở thời điểm và rủi ro, khi vấn đề là việc cải thiện năng suất cần bao nhiêu thời gian để giảm lạm phát so với việc thúc đẩy chi tiêu thêm ngay hôm nay, và liệu Fed có thể an toàn dựa vào việc giảm lạm phát trong tương lai để mạo hiểm cắt giảm lãi suất ngay bây giờ hay không.

Bên cạnh những cải cách mang tính dài hơi, thách thức trước mắt của tân Chủ tịch Fed sẽ là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu cắt giảm lãi suất của Tổng thống Donald Trump và các số liệu kinh tế cho thấy không có nhiều dư địa để thực hiện yêu cầu đó.

Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ vẫn ở mức tương đối thấp là 4,3%, trong khi lạm phát đã cao hơn mục tiêu 2% của Fed trong hơn 5 năm và hiện đang diễn biến theo chiều hướng xấu đi, do chi phí năng lượng gia tăng liên quan đến xung đột tại Trung Đông. Chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ trong tháng 4/2026 tăng 3,8% so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 5/2023. Fed dự báo lạm phát có thể phải mất thêm 2 năm nữa mới trở lại mục tiêu, khoảng thời gian có nguy cơ làm xói mòn niềm tin công chúng rằng giá cả dài hạn sẽ được giữ ổn định.

Trong khi đó, báo cáo việc làm tháng 4/2026 càng cho thấy rằng mối lo ngại lớn hơn của Fed không phải là thị trường lao động mà là chi phí sinh hoạt ngày càng trở nên khó gánh chịu đối với người dân Mỹ bình thường. Mức tăng 115.000 việc làm phi nông nghiệp trong tháng trước tuy không quá bùng nổ, nhưng tiếp tục cho thấy bức tranh việc làm đã ổn định đủ để giảm áp lực phải cắt giảm lãi suất.

Bối cảnh này đặt ông Warsh trước một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Tăng lãi suất để ngăn chặn lạm phát có nguy cơ làm trầm trọng thêm bất kỳ sự suy giảm kinh tế nào do xung đột, trong khi giảm lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế lại có nguy cơ khiến giá cả leo thang hơn nữa. Và ngay cả việc giữ nguyên lãi suất khi lạm phát "nóng" lên đồng nghĩa với chính sách thực tế trở nên nới lỏng hơn, khiến các hộ gia đình và doanh nghiệp ít có lý do cắt giảm chi tiêu và có thể càng đổ thêm dầu vào lửa.

Trong các bài phát biểu, phỏng vấn và các phiên điều trần công khai trong năm qua, ông Warsh đã đưa ra nhiều lập luận khác nhau về lý do tại sao lãi suất vẫn có thể giảm bất kể các số liệu hiện tại. Đó là lợi ích về năng suất nhờ AI có thể làm cho mọi thứ rẻ hơn, việc thu hẹp lượng trái phiếu dài hạn của Fed có thể biện minh cho việc giảm lãi suất ngắn hạn, và các biện pháp đo lường lạm phát thay thế và chính xác hơn thực sự cho thấy giá cả tăng chậm hơn so với những gì hiện đang được Fed nhấn mạnh.

Mặc dù ông Warsh có thể có những lập luận hợp lý về bất kỳ mục nào trong số đó, nhưng việc củng cố chúng bằng các nghiên cứu và thuyết phục các nhà hoạch định chính sách khác sẽ cần thời gian, nếu điều đó là khả thi.

Theo vietnamplus.vn Sao chép

Cùng chuyên mục Kinh doanh quốc tế

Trung Quốc: Lượng vay vốn sụt giảm mạnh trong tháng 7/2026

Nguyên nhân chính là do người dân, doanh nghiệp Trung Quốc đang nỗ lực giảm bớt gánh nặng nợ nần trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng chậm lại, tiền lương trì trệ và tỷ suất lợi nhuận đầu tư ở mức thấp.

Xuất khẩu đất hiếm của Trung Quốc sang Nhật Bản và Mỹ giảm mạnh Trung Quốc: Giá tiêu dùng và giá sản xuất cùng giảm tốc trong tháng 7/2026

Giá dầu châu Á tăng khi Mỹ cảnh báo phong tỏa hàng hải vô thời hạn đối với Iran

Mỹ cảnh báo có thể duy trì phong tỏa hàng hải đối với Iran vô thời hạn và gia tăng áp lực kinh tế lên nước này do các cuộc đàm phán thỏa thuận ngừng bắn đã bị đình trệ.

Giá dầu giảm nhẹ khi triển vọng nhu cầu toàn cầu suy yếu Giá dầu thô giảm hơn 2% khi nỗi lo nhu cầu yếu lấn át rủi ro nguồn cung

Ủy ban châu Âu phê chuẩn thương vụ Volkswagen bán cổ phần

Với khoản thu 7,4 tỷ euro từ thương vụ, Volkswagen tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi trong bối cảnh tập đoàn chịu sức ép lớn từ khủng hoảng lợi nhuận, chi phí chuyển đổi sang xe điện...

Tình hình kinh doanh khó khăn, doanh số toàn cầu của Volkswagen sụt giảm Volkswagen dự kiến bán cổ phần chi phối Everllence cho quỹ Bain của Mỹ

Xuất khẩu của Đức sang Đông Âu bùng nổ

Các quốc gia Đông Âu như Ba Lan, Cộng hòa Czech, Hungary và Romania đang giúp nền kinh tế Đức bù đắp những sụt giảm trong hoạt động xuất khẩu với các đối tác thương mại lớn là Trung Quốc và Mỹ.

Các nhà xuất khẩu Đức gặp khó do chi phí sản xuất tăng cao Dự báo xuất khẩu Đức sang Mỹ và Trung Quốc đối mặt nhiều thách thức năm 2026

Ngân hàng Mỹ thi nhau đổ vốn vào các lĩnh vực chiến lược

Các ngân hàng lớn của Mỹ đang tăng mạnh nguồn lực tài chính dành cho trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng, quốc phòng, cơ sở hạ tầng và chuỗi cung ứng, với các chương trình lên tới hàng nghìn tỷ USD.

Các ngân hàng Mỹ có thể giải phóng 320 tỷ USD vốn nhờ các quy định mới Các ngân hàng Mỹ đệ trình kiến nghị nhằm nới lỏng quy định dự trữ vốn

Giá dầu thô giảm hơn 2% khi nỗi lo nhu cầu yếu lấn át rủi ro nguồn cung

Giá dầu thô thế giới sụt giảm hơn 2% trong phiên 13/8, đảo ngược chuỗi tăng kéo dài suốt một tuần qua khi giới giao dịch tập trung vào các dấu hiệu suy yếu của nhu cầu toàn cầu.

Iran tuyên bố tiếp tục đóng cửa eo biển Hormuz, giá dầu tiếp đà tăng Giá dầu thế giới tăng nhẹ khi căng thẳng Trung Đông chưa hạ nhiệt