Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục xem xét, chấp thuận cho tổ chức kinh tế cho vay ra nước ngoài và bảo lãnh cho người không cư trú.
Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo là đề xuất giới hạn quy mô các khoản cho vay ra nước ngoài không gắn với dự án đầu tư ở mức tối đa 200 triệu USD mỗi năm hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương.
Dự thảo gồm 5 chương, 22 điều, quy định về điều kiện cho vay, bảo lãnh; thẩm quyền xem xét, chấp thuận; cùng trình tự, thủ tục thực hiện.
Theo đó, tổ chức kinh tế chỉ được cho vay hoặc bảo lãnh đối với công ty mẹ hoặc các công ty thành viên ở nước ngoài có cùng công ty mẹ với bên cho vay, bên bảo lãnh. Ngoài ra, đối tượng được vay hoặc được bảo lãnh còn bao gồm Chính phủ nước ngoài hoặc các tổ chức nước ngoài được Chính phủ nước ngoài bảo lãnh theo các thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước.
Về điều kiện tài chính, doanh nghiệp phải được thành lập hợp pháp tại Việt Nam và có thời gian hoạt động tối thiểu 2 năm đối với các khoản cho vay, bảo lãnh gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài; tối thiểu 5 năm đối với các khoản không gắn với dự án đầu tư.
Trong hai năm liền kề trước thời điểm nộp hồ sơ, doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi theo báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán. Đồng thời, tại thời điểm xây dựng phương án cho vay hoặc bảo lãnh, doanh nghiệp không được có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng và không có nợ thuế với ngân sách nhà nước.
Đối với doanh nghiệp không phải doanh nghiệp nhà nước, tỷ lệ nợ phải trả tối đa không vượt quá 3 lần vốn chủ sở hữu theo báo cáo tài chính hợp nhất quý hoặc năm gần nhất.
Dự thảo cũng quy định tổ chức kinh tế không được sử dụng vốn vay nước ngoài để cho vay ra nước ngoài hoặc bảo lãnh cho người không cư trú. Với các khoản cho vay hoặc bảo lãnh không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài, nguồn vốn thực hiện phải là nguồn ngoại tệ tự có phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được phép thu ngoại tệ theo quy định.
Đối với các khoản cho vay hoặc bảo lãnh gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài, giá trị cho vay hoặc nghĩa vụ bảo lãnh phải nằm trong hạn mức đã đăng ký và phù hợp với quy mô vốn đầu tư ghi nhận tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.
Về mục đích sử dụng vốn, khoản vay hoặc bảo lãnh phải phục vụ dự án đầu tư ra nước ngoài đã được cấp phép hoặc hoạt động kinh doanh phù hợp với phạm vi hoạt động của bên vay, bên được bảo lãnh tại nước sở tại.
Dự thảo đồng thời yêu cầu doanh nghiệp xây dựng phương án cho vay, bảo lãnh với đầy đủ các nội dung về hạn mức, mục đích sử dụng vốn, nguồn ngoại tệ, kế hoạch giải ngân và thu hồi nợ, khả năng tài chính của bên vay cũng như các biện pháp quản trị rủi ro.
Đáng chú ý, dự thảo quy định một số trường hợp phải trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận trước khi thực hiện. Cụ thể, các khoản cho vay gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài có quy mô từ 1.600 tỷ đồng trở lên hoặc dự án đề xuất áp dụng cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt sẽ thuộc thẩm quyền xem xét của Thủ tướng.
Bên cạnh đó, các khoản cho vay không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài có giá trị từ 1.600 tỷ đồng trở lên và các khoản bảo lãnh có giá trị cam kết từ 1.600 tỷ đồng trở lên cũng phải được Thủ tướng chấp thuận.
Trường hợp tăng giá trị khoản vay hoặc khoản bảo lãnh trên 10% so với mức đã được chấp thuận hoặc thay đổi bên cho vay, bên bảo lãnh, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục điều chỉnh văn bản chấp thuận.
Đối với các trường hợp không thuộc diện phải xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ, tổ chức kinh tế được thực hiện cho vay hoặc bảo lãnh khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định và hoàn tất thủ tục đăng ký, đăng ký thay đổi với NHNN theo quy định về quản lý ngoại hối.