Cổ phiếu kín room ngoại: Hết thời “hàng hiếm”, nhà đầu tư còn kỳ vọng gì?
TCBS Research cho biết, nhóm cổ phiếu từng kín room ngoại đã chuyển từ vượt trội sang kém VN-Index trong 2 năm gần đây. Khi premium xuống dưới 3%, lợi thế từng khiến nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cao đang dần biến mất.
Trong nhiều năm, cổ phiếu kín room ngoại thường được thị trường xem là một dạng “hàng hiếm”. Tuy nhiên, diễn biến thị trường gần đây cho thấy lợi thế này không còn đáng tin cậy như trước.
Theo báo cáo chuyên đề công bố ngày 19/10 của TCBS Research, nhóm 26 cổ phiếu từng kín room ngoại ít nhất 8 tuần trong giai đoạn 2019-2026 đã vượt VN-Index liên tục trong 5 năm từ 2020 đến 2024, với mức vượt trội từ 6% đến hơn 42% mỗi năm.
Nhưng sang năm 2025, nhóm này kém chỉ số chung 23,8%. Trong 10 tháng đầu năm 2026, mức kém hiệu quả tiếp tục ở 11,5%.
Sự đảo chiều diễn ra trong bối cảnh khối ngoại không còn sẵn sàng trả mức giá cao để sở hữu cổ phiếu đã cạn room.
Theo các chuyên gia phân tích của Chứng khoán TCBS, điều nhà đầu tư cần quan tâm không đơn thuần là cổ phiếu còn hay hết room, mà là dòng tiền ngoại có thực sự chấp nhận trả thêm để mua cổ phiếu hay không.
Premium giảm, lợi thế của cổ phiếu kín room suy yếu
Một trong những chỉ báo được TCBS Research sử dụng là phần bù giá (premium), tức mức giá nhà đầu tư nước ngoài trả khi mua thỏa thuận cao hơn giá đóng cửa của cổ phiếu trong cùng phiên, trong điều kiện room ngoại đã cạn.
Giai đoạn 2020-2024, phần bù giá của nhóm cổ phiếu kín room dao động khoảng 3,67-7,27%. Đây là giai đoạn nhóm cổ phiếu này liên tục vượt trội VN-Index, dù khối ngoại bán ròng trong 4/5 năm. Điều đó cho thấy tổng giá trị mua bán ròng chưa chắc phản ánh đầy đủ sức cầu đối với những cổ phiếu đã hết room.
Từ năm 2025, tín hiệu thay đổi rõ rệt. Phần bù giá ước tính giảm còn 1,95%, trước khi lên 2,79% trong năm 2026 tính đến thời điểm nghiên cứu. Trong khi đó, giá trị mua thỏa thuận đối với nhóm cổ phiếu kín room giảm từ 60.100 tỷ đồng năm 2024 xuống 31.400 tỷ đồng năm 2025 và còn 18.500 tỷ đồng trong năm 2026.
Cùng thời điểm, sở hữu nước ngoài trên VN-Index giảm còn 13,09% vào ngày 7/10/2026, mức thấp nhất kể từ năm 2018. Phần lớn các cổ phiếu từng kín room đã không còn duy trì trạng thái này.
Một điểm đáng chú ý là khi room ngoại cạn hoàn toàn, khối ngoại gần như không thể tiếp tục mua cổ phiếu bằng phương thức khớp lệnh trên sàn. Giao dịch mua bổ sung chủ yếu phải thông qua thỏa thuận với nhà đầu tư nước ngoài khác đang nắm giữ cổ phiếu.
Trường hợp MWG minh họa rõ cơ chế này. Theo số liệu của TCBS Research, trong giai đoạn từ ngày 13-31/7/2026, khi room chưa cạn hoàn toàn, khối ngoại mua khớp lệnh bình quân 433.600 cổ phiếu mỗi phiên. Từ ngày 10/8 - 12/10/2026, khi room bằng 0, lượng mua khớp lệnh bình quân giảm còn 4.500 cổ phiếu mỗi phiên, tương đương giảm khoảng 99%.
Trong khi đó, phần bù giá mua thỏa thuận tại MWG đạt 4,15% trong tháng 8/2026 và 7,92% trong tháng 9/2026. Tuy nhiên, khoản chênh lệch này thuộc về cổ đông nước ngoài bán thỏa thuận, không phải lợi ích trực tiếp mà nhà đầu tư trong nước đang giao dịch trên sàn được hưởng.
Vì vậy, việc một cổ phiếu hết room không đồng nghĩa lực cầu sẽ tiếp tục mạnh lên. Ngược lại, nhà đầu tư trong nước có thể mất đi một nguồn cầu khớp lệnh đáng kể mà không được hưởng phần bù giá trong các giao dịch thỏa thuận giữa những nhà đầu tư nước ngoài.
3 nhóm doanh nghiệp có đặc điểm cạn room khác nhau
Không chỉ trạng thái kín room, thời điểm room mở trở lại cũng cần được nhìn nhận thận trọng. Theo thống kê của TCBS Research trên 26 cổ phiếu trong mẫu nghiên cứu, trong 39 lần room hở, chỉ có 10 lần cổ phiếu vượt VN-Index sau 4 tuần. Nói cách khác, 29/39 lần cổ phiếu diễn biến kém hơn thị trường chung.
Tương tự, trong 21 lần room kín trở lại, chỉ 7 lần cổ phiếu vượt chỉ số sau 13 tuần. Việc room cạn lại vì thế chưa đủ cơ sở để nhà đầu tư mua đuổi, nhất là khi thị trường không ở trong một nhịp giảm sâu.
Theo TCBS Research, room hở thường phản ánh việc khối ngoại đang bán ra. Điều quan trọng là xác định nguyên nhân phía sau dòng tiền này, thay vì mặc định cổ phiếu trở nên hấp dẫn hơn chỉ vì xuất hiện thêm dư địa sở hữu nước ngoài.
Dù vậy, báo cáo cũng chỉ ra một ngoại lệ đáng chú ý. Trong 7 sự kiện room hở hoặc kín lại khi VN-Index đã giảm trên 15% trong 52 tuần trước đó, có 5 trường hợp cổ phiếu vượt chỉ số sau 12 tháng. Mức lợi suất vượt trội trung vị đạt 31,1%.
Kết quả này gợi ý rằng trạng thái room có thể mang ý nghĩa khác nhau tùy bối cảnh thị trường. Khi thị trường đã giảm sâu, việc cổ phiếu được khối ngoại quan tâm trở lại có thể đáng nghiên cứu hơn. Tuy nhiên, quy mô mẫu nhỏ khiến kết quả chưa đủ để trở thành một quy tắc đầu tư có thể áp dụng máy móc.
Báo cáo cũng phân biệt 3 nhóm doanh nghiệp có đặc điểm cạn room khác nhau. Với nhóm có cổ đông chiến lược nắm giữ dài hạn như REE, room có thể duy trì ở mức 0% nhưng giao dịch thỏa thuận không sôi động, khiến phần bù giá suy giảm. Tại REE, phần bù giá chỉ còn 0,37% trong tháng 7/2026 và không ghi nhận giao dịch từ tháng 8.
Với nhóm có nhiều quỹ ngoại cùng nắm giữ như MWG, phần bù giá nhạy cảm hơn với biến động room. Khi room mở trở lại vượt khoảng 0,2%, lợi thế này có thể nhanh chóng biến mất. Đây là ngưỡng mà TCBS Research lưu ý nhà đầu tư cần theo dõi.
Trong khi đó, với các ngân hàng chủ động đặt trần sở hữu nước ngoài thấp hơn mức pháp luật cho phép, giá trị của room có thể nằm ở khả năng thu hút nhà đầu tư chiến lược thông qua các thương vụ bán vốn, thay vì giao dịch khớp lệnh hằng ngày.
Cơ hội tại ngân hàng nằm ở thương vụ bán vốn, không chỉ ở room ngoại
Trường hợp VPB bán 15% vốn cho SMBC vào tháng 3/2023 được TCBS Research sử dụng để minh họa mức chênh lệch giữa giao dịch chiến lược và mua bán thông thường trên sàn. Giá bán đạt 30.160 đồng/cổ phiếu, cao hơn thị giá khoảng 36-42%.
Mức chênh lệch này lớn hơn đáng kể so với phần bù giá (7,1%) từng ghi nhận tại TCB khi room kín trong tháng 3/2026.
Theo báo cáo, nhà đầu tư chiến lược mua một lượng cổ phần lớn và có thể đi kèm quyền tham gia quản trị, trong khi giao dịch trên sàn chủ yếu diễn ra với các lô nhỏ và chịu giới hạn biên độ giá.
Do đó, với các ngân hàng như TCB, MBB, OCB, VIB và LPB, việc nâng trần sở hữu nước ngoài hoặc triển khai thương vụ bán vốn chiến lược mới là những yếu tố cần theo dõi. Tuy nhiên, giá trị kỳ vọng chỉ có thể được hiện thực hóa khi các kế hoạch được triển khai cụ thể; việc giữ room trống tự thân chưa tạo ra lợi ích chắc chắn cho cổ đông.
Nhìn rộng hơn, TCBS Research cho rằng, nhà đầu tư nên xem room ngoại là chỉ báo về sức cầu, không phải lý do độc lập để mua cổ phiếu. Chất lượng kinh doanh, định giá và triển vọng dòng tiền vẫn là những cơ sở quan trọng hơn để đánh giá một cơ hội đầu tư.