Thách thức của chính sách thắt chặt tiền tệ

Giá cổ phiếu lao dốc và đồng USD tăng giá mạnh thể hiện lo ngại về các đợt tăng lãi suất đáng kể của Fed. Nhưng những nỗi đau của việc thắt chặt tiền tệ chỉ mới bắt đầu.

Theo tạp chí Project Syndicate, khi được công bố vào ngày 13/9 rằng chỉ số giá tiêu dùng - một thước đo chính của lạm phát - ở Mỹ đã tăng hơn so với dự kiến trong tháng Tám, giá cổ phiếu lao dốc và đồng USD tăng giá mạnh. Các thị trường biết rằng điều này sẽ thúc đẩy Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thông báo một đợt tăng lãi suất đáng kể khác. Đó chính xác là những gì đã xảy ra. Nhưng những nỗi đau của việc thắt chặt tiền tệ chỉ mới bắt đầu.

Fed không đơn độc trên con đường tăng lãi suất. Lạm phát tăng vọt - đã lên tới hai con số ở Liên minh châu Âu (EU) và Vương quốc Anh - đã thúc đẩy Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng trung ương Anh (BoE) làm điều tương tự, mặc dù nhiều nhà kinh tế vẫn cáo buộc cả ba cơ quan quản lý tiền tệ nói trên đã hành động quá chậm chạp.

Các ngân hàng trung ương ở Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan cũng đã tăng lãi suất chính sách thêm 25 điểm cơ bản và ngân hàng trung ương Philippines thêm 50 điểm cơ bản vào tháng Tám. Lạm phát ở Thái Lan hiện ở mức 7,9%, 6,3% ở Philippines, 5,7% ở Hàn Quốc và 4,7% ở Indonesia trong cùng tháng.

Một nền kinh tế châu Á không phải vật lộn với giá cả tăng vọt là Trung Quốc. Với lạm phát hiện đang ở mức 2,5%, ngân hàng trung ương Trung Quốc đã giảm các mức lãi suất chủ chốt vào tháng trước. Đối với Trung Quốc, thách thức lớn hơn - và lý do chính khiến lạm phát không tăng đột biến - là tăng trưởng kinh tế sụt giảm, phần lớn là do chính sách "Không COVID" của chính phủ nước này. Suy thoái kinh tế đang khiến thị trường bất động sản dư thừa chịu áp lực nặng nề.

Về phía Nhật Bản, sau nhiều năm lạm phát dưới mục tiêu và thậm chí giảm phát, giá năng lượng và thực phẩm tăng đã đẩy lạm phát tiêu dùng lõi lên 2,8% trong tháng Tám - mức tăng hàng năm nhanh nhất trong 8 năm. Nhưng nếu loại trừ thực phẩm tươi sống và năng lượng, tỷ lệ lạm phát trong tháng Tám chỉ là 1,6%, vẫn thấp hơn mục tiêu 2%. Điều này giải thích tại sao Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) vẫn chưa từ bỏ lãi suất âm (lãi suất liên ngân hàng qua đêm duy trì ở mức -0,1%) hoặc kiểm soát đường cong lợi suất (giới hạn lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm ở mức 0,25%).

Khi chênh lệch tỷ lệ lãi suất giữa Nhật Bản và Mỹ tăng lên, tỷ giá hối đoái giữa đồng yen và USD cũng biến động mạnh theo hướng giảm giá của đồng yen. Với việc đồng yen đã mất giá gần 30% trong 12 tháng qua, đồng USD hiện giao dịch ở mức khoảng 1 USD đổi 144 yen - mức được ghi nhận lần cuối vào năm 1998 trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á.

Nhật Bản không thể duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ mãi mãi. Trên thực tế, Nhật Bản đã được chuẩn bị cho việc thắt chặt tiền tệ và tăng lãi suất không phải là cách duy nhất để theo đuổi mục tiêu này. Các ngân hàng trung ương cũng có thể thu hẹp bảng cân đối kế toán, vốn đã mở rộng đáng kể kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, khi các cơ quan quản lý tiền tệ bắt đầu mua một lượng lớn trái phiếu dài hạn theo chương trình nới lỏng định lượng (QE) của họ. Một phương tiện để đạt được điều này là để trái phiếu đáo hạn "tách ra" bảng cân đối kế toán, thay vì tái đầu tư chúng.

Quảng cáo

Tuy nhiên, có một rủi ro ở đây. Trước khi ngân hàng trung ương hoàn tất đủ bảng cân đối trái phiếu dài hạn, lãi suất tăng nhanh sẽ làm giảm giá trị thị trường của trái phiếu, ngay cả khi giá trị nợ phải trả không thay đổi. Điều này có thể đẩy một ngân hàng trung ương vào tình trạng "vỡ nợ kỹ thuật", với giá trị nợ phải trả theo thị trường vượt quá giá trị tài sản trên thị trường nhiều hơn tổng số vốn và bất kỳ khoản "đệm" nào (lợi nhuận tích lũy giữ lại).

Nhật Bản có thể đặc biệt dễ bị tổn thương trong lĩnh vực này, do nước này từ lâu đã duy trì mức lãi suất dài hạn gần bằng 0. Thời gian đáo hạn trung bình của trái phiếu ở khía cạnh tài sản trong bảng cân đối kế toán của BoJ ước tính là 6,5 năm và lợi suất trung bình của chúng là cực kỳ thấp. Tuy nhiên, trên thực tế, vỡ nợ kỹ thuật sẽ không phải là một vấn đề. Các khoản lỗ chưa thực hiện không phải là vấn đề đối với một ngân hàng trung ương hầu như luôn giữ trái phiếu đến hạn.

Nhưng các ngân hàng trung ương có thể phải đối mặt với một vấn đề khác khi họ tăng lãi suất. Một ngân hàng trung ương có nguồn thu từ tiền lãi trên tài sản của mình (chủ yếu là tín phiếu và trái phiếu chính phủ), và trả lãi cho các khoản dự trữ. Fed bắt đầu trả lãi cho các khoản dự trữ vượt mức vào tháng 10/2008 do việc mở rộng bảng cân đối kế toán và BoJ đã hành động tương tự trong tháng sau đó.

Đây không phải là vấn đề vào thời điểm đó, vì lãi suất trả cho dự trữ về cơ bản bằng với lãi suất chính sách, gần bằng 0, trong khi lãi suất tín phiếu và trái phiếu kho bạc (hoặc trái phiếu chính phủ Nhật Bản) là dương, mặc dù có xu hướng giảm. Sự khác biệt về lãi suất giữa các bên tài sản và trách nhiệm đã mang lại cho các ngân hàng trung ương khoản lợi nhuận lớn - được gọi là tiền gửi - được chuyển cho chính phủ.

Các đợt tăng lãi suất lớn và nhanh chóng đã khiến lợi nhuận này giảm, do lãi suất trả cho bên phải trả tăng theo lãi suất chính sách, nhưng hầu hết các Kho bạc đều có lãi suất cố định. Nếu các nhà hoạch định chính sách không cẩn thận, các khoản thanh toán lãi suất có thể vượt quá doanh thu và thậm chí ngốn hết bất kỳ bộ đệm nào mà ngân hàng trung ương có thể đang nắm giữ. Kết quả chính là cái được gọi là chênh lệch giá phí âm, theo đó đòi hỏi chính phủ phải trợ cấp cho ngân hàng trung ương - điều này có thể gây ra một vấn đề chính trị.

Để BoJ tránh được tình trạng chênh lệch giá phí âm, ngân hàng này cần không được gấp rút thực hiện quá trình tách trái phiếu đáo hạn khỏi bảng cân đối kế toán. Hơn nữa, BoJ phải cho phép lợi suất dài hạn tăng, bằng cách nâng trần lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm, trước khi chuyển một cách từ từ sang tăng lãi suất chính sách. Câu hỏi đặt ra là liệu những diễn biến kinh tế và tài chính trong vài năm tới có cho phép thực hiện cách tiếp cận này hay không.

Khi các ngân hàng trung ương tung ra QE, có rất nhiều rủi ro về việc mất khả năng thanh toán kỹ thuật và chênh lệch giá phí âm. Nhưng các chính phủ đứng đằng sau các cơ quan quản lý tiền tệ. Bảng cân đối kế toán của Fed được cho là được hỗ trợ bởi sự bảo lãnh ngầm của chính phủ Mỹ. Sự bảo đảm của Chính phủ Anh rõ ràng hơn. Và Chính phủ Nhật Bản đã cho phép BoJ tích lũy phần thu nhập giữ lại.

Tuy nhiên, khi thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, nhưng cam kết này có thể sẽ bị thử thách. Điều quan trọng, nếu phát sinh tình trạng chênh lệch giá phí âm, các chính phủ phải kiềm chế để không biến nó thành một vấn đề chính trị.

Theo Bnews Sao chép

Cùng chuyên mục Thế giới

Mỹ cân nhắc cho phép thêm dầu diesel Nga vào thị trường toàn cầu

Việc chính quyền Tổng thống Mỹ đình chỉ các lệnh trừng phạt đối với hoạt động xuất khẩu dầu diesel của Nga hồi đầu tháng này là “một biện pháp khuyến khích” Moskva chấm dứt cuộc chiến tại Ukraine.

Giá dầu diesel tại Mỹ tiếp tục neo cao Thỏa thuận nhập khẩu dầu diesel từ Nga có thể ít tác động đến giá bán lẻ Mỹ

Chứng khoán Mỹ khởi sắc nhờ đà tăng của nhóm cổ phiếu công nghệ

Những thông tin xoay quanh kế hoạch phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) sắp tới của công ty AI Anthropic đã hỗ trợ nhóm cổ phiếu bán dẫn tăng phiên thứ ba liên tiếp.

Chứng khoán châu Á diễn biến trái chiều trong phiên đầu tuần Chứng khoán Mỹ lấy lại đà tăng nhờ lực đẩy từ hồ sơ IPO của Anthropic

Giá dầu giảm gần 2 USD mỗi thùng giữa bối cảnh đàm phán tại Trung Đông

Khép lại phiên 27/10, giá dầu Brent Biển Bắc giảm 1,93 USD (1,67%) xuống 113,88 USD/thùng; trong khi giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giảm 1,86 USD (1,83%) xuống 99,90 USD/thùng.

Giá dầu thô dần hạ nhiệt nhờ kỳ vọng đàm phán Trung Đông Giá dầu thế giới giảm khoảng 1% nhờ hy vọng hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông

OPEC+ dự kiến giữ nguyên sản lượng dầu mỏ trong tháng 12/2026

OPEC+ hồi tháng 9/2026 đã hoàn tất lộ trình khôi phục lại phần sản lượng cắt giảm tự nguyện 1,65 triệu thùng/ngày. Đây là khoản sắt giảm được các nước thành viên thống nhất từ năm 2023.

OPEC hạ dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu mỏ năm 2026 OPEC+ dự kiến giữ nguyên mục tiêu sản lượng tháng 11/2026

Goldman Sachs bội thu với chuỗi thương vụ AI trị giá 210 tỷ USD

Goldman Sachs giành được vị thế nòng cốt trong đợt IPO của Anthropic đã khiến không ít người bất ngờ, bởi trước đó Morgan Stanley mới là bên dẫn dắt việc mở rộng hạn mức tín dụng cho công ty AI này.

Lạm phát Mỹ hạ nhiệt, Goldman Sachs lùi thời điểm dự báo Fed tăng lãi suất Goldman Sachs nâng dự báo giá dầu Brent cuối năm 2026 lên 90 USD/thùng

Chứng khoán châu Á khởi sắc nhờ kỳ vọng vào đợt IPO của Anthropic

Thị trường chứng khoán châu Á hầu hết tăng điểm trong phiên giao dịch ngày 27/10, khi hồ sơ chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) được mong đợi từ lâu của Anthropic.

Chứng khoán châu Á diễn biến trái chiều trong phiên đầu tuần Chứng khoán Mỹ lấy lại đà tăng nhờ lực đẩy từ hồ sơ IPO của Anthropic

Giá dầu thế giới giảm khoảng 1% nhờ hy vọng hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông

Giá dầu thế giới giảm khoảng 1% trong phiên giao dịch ngày 27/10, khi triển vọng giải quyết cuộc xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran giúp xoa dịu những lo ngại về nguồn cung.

Giá dầu châu Á hạ nhiệt sau khi chạm mức cao nhất gần sáu tháng Giá dầu hạ nhiệt giữa kỳ vọng căng thẳng Trung Đông dịu bớt

Nhà Trắng công bố loạt dự án đầu tư nhằm thúc đẩy sản xuất và tạo việc làm tại Mỹ

Các dự án mới tiếp nối những cam kết đầu tư tư nhân trị giá hàng nghìn tỷ USD mà chính quyền Tổng thống Donald Trump cho biết đã thu hút kể từ khi ông nhậm chức.

Tổng thống Mỹ rung chuông khai mạc phiên giao dịch Phố Wall từ Nhà Trắng Cố vấn kinh tế Nhà Trắng: Mỹ đã trở thành siêu cường sản xuất dầu

Giá dầu thô dần hạ nhiệt nhờ kỳ vọng đàm phán Trung Đông

Giá dầu thô thế giới giảm nhẹ trong phiên 26/10 khi những nỗ lực ngoại giao đa phương thắp lên hy vọng hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông, xoa dịu phần nào nỗi lo đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng.

Chuyên gia: Giá vàng hiện phụ thuộc vào giá dầu Giá dầu châu Á hạ nhiệt sau khi chạm mức cao nhất gần sáu tháng