Sẵn sàng vốn tín dụng cho mùa cao điểm cuối năm

Càng về thời điểm cuối năm, nhu cầu nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp càng tăng cao. Việc chủ động chuẩn bị hạn mức và các giải pháp tài chính đa dạng từ phía các ngân hàng được kỳ vọng sẽ tạo động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế những tháng còn lại của năm 2026.

4 tháng cuối năm thường là giai đoạn doanh nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu tăng tốc. Đây cũng là thời điểm nhu cầu vốn lưu động tăng nhanh nhất khi doanh nghiệp phải đồng thời mua nguyên liệu, trả lương, duy trì sản xuất, tăng hàng tồn kho và chuẩn bị giao hàng.

Tuy nhiên, bức tranh mùa cao điểm không hoàn toàn màu hồng. Nhìn vào thực tế, nhiều doanh nghiệp dù đã cầm chắc đơn hàng trong tay nhưng vẫn trăn trở vì thiếu hụt dòng tiền tức thời. Rào cản này cần sự đồng hành và tháo gỡ linh hoạt hơn từ dòng vốn ngân hàng.

Chủ động khơi thông dòng vốn đến doanh nghiệp

Quy mô tín dụng hiện cho thấy vai trò đặc biệt lớn của doanh nghiệp đối với dòng vốn ngân hàng. Số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho thấy, đến ngày 31/7/2026, dư nợ toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Đáng chú ý, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp đạt trên 10,7 triệu tỷ đồng, tương đương 53,4% tổng dư nợ. Như vậy, doanh nghiệp đang là “địa chỉ” hấp thụ hơn một nửa dòng vốn tín dụng của nền kinh tế.

Thời gian qua, NHNN đã chủ động tạo thêm dư địa để khơi thông dòng vốn đến doanh nghiệp. Điển hình như, từ tháng 8/2026, cơ quan quản lý đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại triển khai gói tín dụng ưu đãi dành riêng cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Cùng với đó, dòng vốn tập trung đón đầu các động lực tăng trưởng cốt lõi như nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, xuất khẩu, công nghệ cao, kinh tế số, chế biến - chế tạo và các dự án xanh.

Đáng chú ý, các khách hàng thuộc chương trình được vay vốn bằng VND với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1 điểm phần trăm/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng.

Đây là tín hiệu tích cực đối với doanh nghiệp trong mùa cao điểm. Tuy nhiên, giảm giá vốn mới chỉ giải quyết được một phần bài toán. Một doanh nghiệp cần 20 tỷ đồng để nhập nguyên liệu trong tháng 10 nhưng đến tháng 11 mới được giải ngân thì khoản vay dù rẻ vẫn không hoàn thành mục tiêu ban đầu.

Do đó, “tín dụng sẵn sàng” cần được hiểu theo 3 lớp: Sẵn nguồn vốn, sẵn hạn mức và sẵn khả năng giải ngân. Nếu chỉ có nguồn vốn mà quy trình xét duyệt vẫn chậm, tín dụng vẫn có thể “đúng chính sách nhưng lệch thời điểm”.

giao-dich-14-.jpg?md5=KA9JNnpUAmID2SK829e3rw&expires=1789227665
Ảnh minh họa

Dịch chuyển dòng vốn từ tài sản cố định sang "chảy theo" dòng tiền thực tế

Trong cuộc đua vốn mỗi mùa cao điểm, tài sản thế chấp từ lâu đã trở thành "điểm nghẽn" cố hữu khép lại cơ hội tiếp cận tín dụng của hàng loạt DNNVV. Tuy nhiên, khi nhà xưởng, đất đai đã chạm trần giới hạn thế chấp, sự sống còn của doanh nghiệp lại phụ thuộc vào những giá trị vô hình nhưng hoàn toàn có thật: Hợp đồng, đơn hàng và uy tín trong chuỗi cung ứng.

Số liệu công bố của ngành chức năng cho biết, DNNVV chiếm khoảng 98,4% tổng số doanh nghiệp nhưng dư nợ tín dụng mới chiếm khoảng 19-20%. Khoảng cách này cho thấy dư địa tín dụng đối với khu vực này còn rất lớn.

Nhưng mở rộng tín dụng không có nghĩa là bỏ qua nguyên tắc an toàn. Vấn đề cốt lõi là ngân hàng phải có khả năng trả lời được câu hỏi: Doanh nghiệp sẽ lấy tiền ở đâu để trả khoản vay?

Nếu câu trả lời nằm trong một hợp đồng xuất khẩu có đối tác uy tín, dòng tiền phải thu minh bạch và lịch sử thanh toán tốt, thì đó là thông tin có giá trị tín dụng không kém việc doanh nghiệp đang sở hữu bao nhiêu mét vuông đất.

Do đó, việc dịch chuyển dòng vốn từ tài sản cố định sang "chảy theo" dòng tiền thực tế không chỉ là một giải pháp tình thế, mà đang trở thành một bước chuyển mang tính tất yếu và không thể đảo ngược của thị trường tài chính hiện đại.

Một hướng đi đáng chú ý là chuyển từ tài trợ từng doanh nghiệp sang tài trợ dòng chảy kinh doanh. Ở mô hình này, ngân hàng không chỉ nhìn vào bảng cân đối của một doanh nghiệp mà nhìn cả chuỗi: doanh nghiệp đầu chuỗi, nhà cung cấp, nhà phân phối, đơn hàng, hợp đồng, khoản phải thu và thời điểm thanh toán.

Quảng cáo

Khi dữ liệu được số hóa và kết nối, ngân hàng có thể đánh giá rủi ro trên toàn chuỗi. Điều này đặc biệt phù hợp với các ngành có tính liên kết cao như thủy sản, lúa gạo, nông sản, dệt may, đồ gỗ và công nghiệp hỗ trợ.

Thực tế cho thấy các ngân hàng đang hướng tới tín dụng xuất khẩu, tài trợ thương mại, tài trợ chuỗi cung ứng, ngân hàng số và tài chính xanh. Đây có thể là “đường cao tốc” mới của tín dụng doanh nghiệp vốn không chạy theo tài sản thế chấp, mà chạy theo dòng hàng hóa và dòng tiền.

Khơi thông tín dụng nhưng không đánh đổi an toàn

Áp lực tăng trưởng tín dụng cuối năm là có thật, nhưng không thể giải quyết bằng cách yêu cầu ngân hàng “mạnh dạn cho vay” một cách cơ học.

Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng chất lượng tài sản, khả năng huy động vốn và an toàn thanh khoản. Đây là vấn đề càng đáng lưu ý khi tốc độ tăng tín dụng đang cao hơn tốc độ tăng tiền gửi trong những tháng đầu năm.

Theo số liệu được công bố, đến ngày 31/7/2026 tín dụng tăng 8,98%, trong khi tiền gửi của tổ chức kinh tế và dân cư đến ngày 27/7 mới tăng 5,75%. Khoảng chênh này cho thấy hệ thống ngân hàng không chỉ phải giải bài toán “bơm vốn”, mà còn phải bảo đảm nguồn vốn đầu vào đủ bền vững.

Đó là lý do điều hành tín dụng cuối năm cần đi theo nguyên tắc: "Linh hoạt nhưng không dễ dãi; nhanh nhưng không bỏ qua kiểm soát rủi ro; ưu tiên sản xuất kinh doanh nhưng không chạy theo tăng trưởng dư nợ bằng mọi giá".

PGS,TS Ngô Trí Long đề xuất việc ngân hàng cần làm ngay trước mùa cao điểm, như sau:

Một là, lập “luồng xanh” tín dụng cho doanh nghiệp có đơn hàng và dòng tiền rõ ràng. Các khách hàng có lịch sử tín dụng tốt, doanh thu ổn định, hợp đồng đầu ra xác thực cần được rút ngắn thời gian xử lý vốn lưu động.

Hai là, chuyển mạnh sang tài trợ chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp đầu chuỗi, nhà cung cấp và ngân hàng cần chia sẻ dữ liệu hợp đồng, khoản phải thu và lịch thanh toán để giảm bất cân xứng thông tin.

Ba là, thiết kế khoản vay theo chu kỳ kinh doanh, vốn cho thu mua nguyên liệu, chế biến, lưu kho và xuất khẩu phải có thời hạn, phương thức giải ngân và lịch trả nợ phù hợp với vòng quay tiền thực tế của từng ngành.

4 tháng cuối năm sẽ là phép thử đối với khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp và khả năng phân bổ vốn của hệ thống ngân hàng.

Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao không thể chỉ có những mục tiêu lớn về đầu tư, xuất khẩu hay tiêu dùng. Phía sau mỗi mục tiêu là hàng triệu quyết định sản xuất của doanh nghiệp và phía sau mỗi quyết định đó là một bài toán vốn.

Vì vậy, câu hỏi quan trọng nhất của tín dụng cuối năm không phải là “có thể bơm thêm bao nhiêu tiền?”, mà là “làm thế nào để đồng vốn đến đúng nơi có khả năng biến nó thành giá trị và quay trở lại ngân hàng đúng hạn?”

Nếu làm được điều đó, tín dụng sẽ không chỉ là nguồn vốn chống “khát” mùa cao điểm. Nó sẽ trở thành đòn bẩy giúp doanh nghiệp tăng công suất, giữ đơn hàng, mở rộng thị trường và bước vào năm 2027 với một nền tảng khỏe hơn.

Dòng vốn cuối năm vì thế không thể chậm một nhịp. Nhưng nhanh thôi chưa đủ. Điều nền kinh tế cần là một dòng vốn nhanh, đúng địa chỉ và có khả năng tạo ra tăng trưởng thực chất.

Theo thitruongtaichinhtiente.vn Sao chép

Cùng chuyên mục Chứng khoán

Chứng khoán toàn cầu chao đảo vì làn sóng đầu tư AI

Giới đầu tư lo ngại chi phí vay vốn để xây dựng trung tâm dữ liệu, mua chip AI ngày càng lớn, trong khi mức định giá cao của nhiều cổ phiếu công nghệ có thể không tương xứng với triển vọng lợi nhuận.

Sắc đỏ bao trùm thị trường chứng khoán châu Á do sức ép từ nhóm công nghệ Chứng khoán Âu – Mỹ giảm điểm trước nỗi lo về lạm phát và nhóm công nghệ

TPS: Lãi quý III giảm 35%, dòng tiền kinh doanh 9 tháng âm hơn 5.000 tỷ đồng

TPS ghi nhận lợi nhuận sau thuế quý III/2026 đạt 86,39 tỷ đồng, giảm 35,27% so với cùng kỳ do chi phí tăng nhanh hơn doanh thu. Lũy kế 9 tháng, công ty hoàn thành khoảng 73% kế hoạch lợi nhuận trước thuế năm, trong khi dòng tiền kinh doanh âm 5.946,25 tỷ đồng.

TPS đặt mục tiêu lợi nhuận tăng gần 3 lần, dự kiến chuyển trụ sở ra Hà Nội TPS thoát lỗ, lợi nhuận quý II đạt 129 tỷ đồng

Từng nắm hơn 10 triệu cổ phiếu KOS, Chứng khoán APG báo lỗ hơn 100 tỷ đồng trong quý III/2026

CTCP Chứng khoán APG (mã APG) ghi nhận khoản lỗ ròng gần 108 tỷ đồng trong quý III/2026, chủ yếu do danh mục tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL) giảm giá mạnh.

Cổ phiếu Chứng khoán APG tăng mạnh nhất năm 2025, Chủ tịch gần như thoái hết vốn Chứng khoán APG bị phạt lỗi công bố thông tin, cổ phiếu liên tục dò đáy

Cổ phiếu đại gia cảng biển lập đỉnh lịch sử, giá trị công ty vượt 37.000 tỷ đồng

Cổ phiếu của một trong những công ty cảng biển lớn nhất Việt Nam vừa thiết lập đỉnh lịch sử, chỉ ít ngày sau khi hoàn tất đợt phát hành cổ phiếu thưởng quy mô lớn.

“Cá mập” ngoại mua lượng lớn cổ phiếu MBS, GMD Cổ đông ngoại muốn thoái vốn tại Vinamilk, SSJ Consulting bán hết cổ phiếu GMD

Giám đốc Tài chính TCBS (TCX): "Cho vay margin còn dư địa tăng trưởng lớn"

Bà Trần Thùy Linh, Giám đốc Cao cấp Quản trị Tài chính Kế toán tại CTCP Chứng khoán Kỹ thương (TCBS) đã chia sẻ về kết quả kinh doanh quý III/2026 và định hướng hoạt động trong thời gian tới.

Chứng khoán TCBS: "Cao điểm tín dụng cuối 2026, lãi suất đi ngang vùng cao" Cổ phiếu bất động sản giảm gần 40%, Chứng khoán TCBS (TCX) chỉ ra điều kiện để tạo đáy bền vững

Sắc đỏ bao trùm thị trường chứng khoán châu Á do sức ép từ nhóm công nghệ

Thị trường chứng khoán châu Á đồng loạt giảm điểm trong phiên ngày 22/10, do cổ phiếu của các công ty công nghệ tiếp tục đà lao dốc sau các báo cáo lợi nhuận trái chiều từ phố Wall.

Tình hình bất ổn ở Pháp và Italy chi phối thị trường chứng khoán thế giới phiên 19/10 Chứng khoán châu Á phục hồi nhờ tín hiệu tích cực về lợi nhuận doanh nghiệp