Thị trường trái phiếu cần mở rộng vai trò tài trợ vốn dài hạn
Giai đoạn 2026–2030, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, đẩy mạnh đầu tư hạ tầng chiến lược, phát triển công nghiệp, công nghệ và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Theo tính toán của các chuyên gia, tổng nhu cầu vốn đầu tư trong giai đoạn này ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương 1.500 tỷ USD, cao hơn mức 17,4 triệu tỷ đồng của giai đoạn 2021–2025.
Quy mô vốn cần huy động lớn đặt ra yêu cầu cân bằng hơn giữa các kênh dẫn vốn. Hiện tín dụng ngân hàng đóng góp khoảng 51% tổng nguồn vốn của nền kinh tế, trong khi thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) chiếm khoảng 13–14%.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt khoảng 3,109 triệu tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ. Theo tổng hợp báo cáo tài chính quý III/2026 của 27 ngân hàng, dư nợ cho vay khách hàng đến ngày 30/9 đạt 15,93 triệu tỷ đồng, tăng 12,47% so với cuối năm 2025, tương ứng tăng thêm khoảng 1,76 triệu tỷ đồng.
Xét về quy mô, dư nợ tín dụng tăng thêm tương đương khoảng 56,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 9 tháng. So sánh sơ bộ này cho thấy vai trò quan trọng của tín dụng ngân hàng trong cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Sự phụ thuộc lớn vào tín dụng cũng đặt ra áp lực về cân đối kỳ hạn. Theo nghiên cứu của Saigon Ratings, khoảng 80% nguồn vốn huy động của ngân hàng có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi khoảng 50% dư nợ tín dụng thuộc nhóm trung, dài hạn. Trong khi đó, nhiều dự án hạ tầng, giao thông, năng lượng có thời gian đầu tư và thu hồi vốn kéo dài 10–20 năm, thậm chí lâu hơn.
Vì vậy, vấn đề không phải là thu hẹp vai trò tín dụng ngân hàng mà là phân định chức năng phù hợp cho từng kênh dẫn vốn. Ngân hàng tiếp tục cung ứng vốn lưu động, tài trợ thương mại và các khoản vay có kỳ hạn phù hợp; thị trường cổ phiếu và trái phiếu cần phát huy tốt hơn vai trò cung cấp vốn trung, dài hạn.
Trong đó, thị trường TPDN là một kênh cần được chú trọng. Theo Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA), lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, tổng giá trị phát hành TPDN đạt 436.827 tỷ đồng, gồm 378.872 tỷ đồng phát hành riêng lẻ (chiếm 86,73%) và 57.955 tỷ đồng phát hành ra công chúng (chiếm 13,27%).
So với tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 3,11 triệu tỷ đồng, giá trị TPDN phát hành mới tương đương 13,9%. Cơ cấu phát hành tập trung chủ yếu ở hai nhóm ngân hàng và bất động sản, lần lượt chiếm khoảng 53% và 39%. Điều này cho thấy dư địa mở rộng thị trường còn lớn, nhất là khả năng thu hút doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, công nghiệp, năng lượng và hạ tầng.
Theo Saigon Ratings, thị trường TPDN cần chuyển từ mô hình huy động vốn chủ yếu dựa vào tài sản bảo đảm và lợi suất kỳ vọng sang định giá dựa trên chất lượng tín nhiệm thực chất. Nhà đầu tư cần được cung cấp đầy đủ thông tin về năng lực tài chính, cấu trúc nợ, dòng tiền trả nợ và rủi ro của doanh nghiệp phát hành. Cùng với đó, cần đa dạng hóa kỳ hạn, phương thức trả nợ và phát triển thị trường thứ cấp để cải thiện thanh khoản.
Một hướng đi đáng chú ý là phát triển trái phiếu cho các dự án hạ tầng theo phương thức đối tác công tư (PPP). Với thời gian hoàn vốn có thể kéo dài hàng chục năm, việc phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng có thể gia tăng áp lực về kỳ hạn và thanh khoản. Trái phiếu dự án sẽ tạo thêm kênh kết nối nguồn vốn của nhà đầu tư dài hạn với các công trình có dòng tiền khai thác trong nhiều năm.
Đối với dự án PPP, nhà đầu tư cần có vốn chủ sở hữu thực chất. Nếu thiếu vốn, cần tạo điều kiện huy động nguồn vốn dài hạn qua phát hành trái phiếu hoặc các kênh phù hợp, thay vì chủ yếu dựa vào vay ngân hàng.
TS. Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế, giảng viên Đại học Nguyễn Tất Thành
TS. Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế, giảng viên Đại học Nguyễn Tất Thành cho rằng ngân hàng nên tập trung cung cấp vốn ngắn hạn phục vụ sản xuất, kinh doanh. Với các dự án hạ tầng có thời gian thu hồi vốn 20–30 năm, thậm chí lâu hơn, việc phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng là không phù hợp do nguồn vốn huy động chủ yếu có kỳ hạn ngắn.
Theo TS. Huỳnh Thanh Điền, đối với dự án PPP, nhà đầu tư cần có vốn chủ sở hữu thực chất. Nếu thiếu vốn, cần tạo điều kiện huy động nguồn vốn dài hạn qua phát hành trái phiếu hoặc các kênh phù hợp, thay vì chủ yếu dựa vào vay ngân hàng. Việc ngân hàng phải dành lượng vốn lớn cho các dự án hạ tầng dài hạn có thể thu hẹp dư địa cho vay DNNVV, hộ kinh doanh và doanh nghiệp sản xuất.
Bộ Tài chính đã xây dựng dự thảo quy định về chào bán trái phiếu ra công chúng của doanh nghiệp dự án PPP, nhằm mở thêm kênh huy động vốn cho các công trình hạ tầng. Tuy nhiên, để thu hút nhà đầu tư, cần làm rõ phương án tài chính, dòng tiền dự án, cơ chế chia sẻ rủi ro và trách nhiệm của các bên tham gia.
Bên cạnh trái phiếu, thị trường cổ phiếu cần phát huy vai trò cung cấp vốn chủ sở hữu dài hạn, giúp doanh nghiệp tăng năng lực tài chính và giảm phụ thuộc vào vốn vay. Việc FTSE Russell nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp mở ra cơ hội tiếp cận các quỹ đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, để thu hút dòng vốn ổn định, chất lượng doanh nghiệp, tính minh bạch và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư cần tiếp tục được cải thiện.
Trong hệ sinh thái này, các công ty chứng khoán đóng vai trò trung gian thông qua tư vấn phát hành, bảo lãnh, phân phối chứng khoán và kết nối doanh nghiệp với các quỹ đầu tư, nhà đầu tư tổ chức trong và ngoài nước.
Nâng cao năng lực doanh nghiệp, mở rộng khả năng thu hút vốn quốc tế
Một điểm nghẽn của thị trường vốn là khả năng tiếp cận nguồn vốn dài hạn giữa các nhóm doanh nghiệp còn chênh lệch. Theo TS. Huỳnh Thanh Điền, doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là DNNVV, vẫn chủ yếu dựa vào vốn tự có và vay ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm, chưa đáp ứng yêu cầu về minh bạch tài chính, quản trị và công bố thông tin để tham gia thị trường vốn.
Tâm lý e ngại mất quyền kiểm soát khi phát hành cổ phiếu, vướng mắc về thủ tục và hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ chưa phát triển đồng bộ cũng khiến doanh nghiệp chưa mặn mà với các kênh huy động trực tiếp. Trong khi đó, nhà đầu tư tổ chức thường yêu cầu báo cáo tài chính đáng tin cậy, thông tin đầy đủ về nghĩa vụ nợ, giao dịch với bên liên quan và phương án sử dụng vốn.
Theo Saigon Ratings, nâng cao chất lượng tín nhiệm cần trở thành một phần trong chiến lược quản trị tài chính dài hạn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần kiểm soát đòn bẩy, cải thiện dòng tiền, nâng cao chất lượng quản trị và chủ động đánh giá tín nhiệm độc lập. Xếp hạng tín nhiệm giúp nhà đầu tư nhận diện rủi ro, đồng thời tạo cơ sở phân hóa chi phí huy động vốn theo chất lượng của từng tổ chức phát hành.
Bên cạnh nâng cao năng lực doanh nghiệp, thu hút nguồn vốn quốc tế cũng là hướng đi cần chú trọng. Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng được kỳ vọng góp phần kết nối thị trường tài chính trong nước với các nhà đầu tư, định chế và dòng vốn quốc tế. Để phát huy vai trò này, cần hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa hoạt động tài chính và nâng cao chất lượng các dự án cần huy động vốn.
Saigon Ratings đề xuất hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ cho thị trường tài chính; phát triển các định chế đầu tư dài hạn như quỹ hưu trí, quỹ trái phiếu, doanh nghiệp bảo hiểm và quỹ đầu tư hạ tầng; đa dạng hóa sản phẩm, kỳ hạn và cơ sở nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu. Cùng với đó là nâng cao chất lượng tín nhiệm doanh nghiệp và chuẩn hóa công bố thông tin.
Việc hình thành danh mục dự án đủ điều kiện thu hút vốn cũng rất quan trọng. Các dự án cần có hồ sơ pháp lý rõ ràng, phương án tài chính khả thi, dòng tiền dự báo được và cơ chế phân bổ rủi ro phù hợp. Tháo gỡ vướng mắc pháp lý, cải thiện tiến độ giải ngân đầu tư công và phát triển công cụ phòng ngừa rủi ro sẽ góp phần thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Với nhu cầu vốn đầu tư lớn trong giai đoạn tới, phát triển thị trường vốn không chỉ là mở rộng kênh huy động mà còn là tái cấu trúc cách thức cung ứng và phân bổ nguồn lực. Khi ngân hàng tập trung vào các khoản tài trợ phù hợp với đặc điểm nguồn vốn, thị trường cổ phiếu cung cấp vốn chủ sở hữu và thị trường trái phiếu đảm nhận tốt hơn vai trò tài trợ nợ trung, dài hạn, cơ cấu vốn của nền kinh tế sẽ cân bằng hơn. Qua đó, áp lực lên hệ thống ngân hàng được giảm bớt, hiệu quả đầu tư được nâng cao và tạo thêm dư địa cho tăng trưởng bền vững.