Giảm lãi suất, áp lực lợi nhuận hiện hữu

Tính đến ngày 28/10/2026, các ngân hàng thương mại đã công bố cam kết giảm lãi suất cho vay, với mức phổ biến 1,5 - 2 điểm phần trăm/năm so với lãi suất thông thường. Một số ngân hàng đưa ra mức giảm sâu hơn, như Nam A Bank giảm tới 3,25%/năm, Vietcombank tới 3%/năm đối với một số lĩnh vực cho vay ngắn hạn, trong khi Agribank và PVcomBank có mức giảm tối đa 2,5%/năm.

Thống kê cho thấy, trong số các ngân hàng đã cam kết giảm lãi suất, 15 ngân hàng công bố các gói tín dụng ưu đãi với tổng hạn mức hơn 451.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 2,2% tổng dư nợ toàn hệ thống, hiện ở mức 20,72 triệu tỷ đồng.

Đáng chú ý, phần lớn chương trình tập trung vào vốn lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh, với kỳ hạn dưới 6 tháng, hướng đến doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cùng các lĩnh vực ưu tiên. Điều này cho thấy chính sách giảm lãi suất đang nhắm đến mục tiêu hỗ trợ dòng tiền và duy trì hoạt động kinh tế trong ngắn hạn.

Tuy nhiên, với ngân hàng, giảm lãi suất đầu ra đồng nghĩa với việc chấp nhận sức ép lên biên lãi thuần (NIM) nếu chi phí huy động không giảm tương ứng. Trong khi đó, nhu cầu vốn vẫn cao khiến cuộc cạnh tranh tiền gửi chưa dễ hạ nhiệt, hạn chế khả năng giảm sâu chi phí đầu vào.

Theo phân tích của Công ty Chứng khoán TCBS, nếu dư nợ được giảm lãi suất 1,5 - 2%/năm chiếm 3 - 5% danh mục cho vay, NIM toàn ngành có thể giảm khoảng 0,03 - 0,07%, lợi nhuận trước thuế giảm khoảng 2 - 4%. Đây là ước tính theo giả định về tỷ trọng dư nợ được ưu đãi, không đồng nghĩa mức suy giảm sẽ giống nhau ở mọi ngân hàng.

Trên thực tế, mức độ ảnh hưởng còn tùy thuộc cơ cấu khách hàng, tỷ trọng khoản vay thuộc diện ưu đãi, khả năng tái định giá tài sản sinh lãi và chi phí huy động của từng tổ chức tín dụng.

Vì vậy, bài toán lợi nhuận không chỉ nằm ở việc ngân hàng giảm bao nhiêu lãi suất, mà còn ở khả năng bù đắp phần thu nhập bị thu hẹp bằng những nguồn doanh thu khác có tính ổn định cao hơn.

khach-hang-giao-dich-tai-bidv.jpg
Ngân hàng giảm lãi suất cho vay, nguồn thu ngoài lãi là điểm tựa. Ảnh Minh họa

Nguồn thu ngoài lãi trở thành điểm tựa

Kết quả kinh doanh 9 tháng năm 2026 cho thấy nhiều ngân hàng vẫn ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận tích cực, dù áp lực cạnh tranh lãi suất và chi phí vốn ngày càng rõ nét.

Trường hợp SHB là một ví dụ đáng chú ý. Ngân hàng ước đạt 14.300 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong 9 tháng, tăng gần 17% so với cùng kỳ và hoàn thành khoảng 81% kế hoạch năm. Đến cuối kỳ, tổng tài sản đạt khoảng 990.000 tỷ đồng, dư nợ tín dụng đạt 680.000 tỷ đồng.

Điểm đáng quan tâm nằm ở sự chuyển dịch cơ cấu thu nhập. Theo thông tin được lãnh đạo SHB chia sẻ tại hội nghị nhà đầu tư ngày 15/10, thu nhập ngoài lãi đóng góp gần 30% tổng thu nhập hoạt động trong nửa đầu năm 2026, cao hơn đáng kể so với tỷ trọng khoảng 10% trong quá khứ.

Nguồn thu này đến từ các hoạt động như: thanh toán, bảo lãnh và cung cấp dịch vụ tài chính. Khi được phát triển trên nền tảng khách hàng hiện hữu, những dịch vụ này có thể giúp ngân hàng gia tăng doanh thu mà không nhất thiết phải mở rộng dư nợ tương ứng.

Tuy nhiên, không nên đồng nhất mọi khoản thu ngoài lãi với nguồn thu bền vững. Phí dịch vụ định kỳ có đặc điểm khác với lợi nhuận từ kinh doanh chứng khoán hoặc ngoại hối, vốn có thể biến động mạnh theo thị trường. Do đó, điều quan trọng không chỉ là tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi, mà còn là nâng chất lượng và tính lặp lại của nguồn thu.

Tại Vietbank, thu nhập lãi thuần trong 9 tháng tăng 12%, trong khi thu nhập từ chứng khoán đầu tư tăng gấp 3,7 lần và doanh thu kinh doanh ngoại hối tăng 30%. Những nguồn thu bổ sung góp phần đưa lợi nhuận trước thuế tăng 50% so với cùng kỳ.

Diễn biến này cho thấy đa dạng hóa doanh thu đang mở thêm dư địa tăng trưởng. Dù vậy, để xác định mức độ bền vững, vẫn cần phân biệt phần lợi nhuận đến từ hoạt động kinh doanh thường xuyên với phần chịu ảnh hưởng của diễn biến thị trường tài chính.

Chuyển từ tăng trưởng quy mô sang chất lượng lợi nhuận

Trong bối cảnh giảm lãi suất cho vay trở thành yêu cầu hỗ trợ nền kinh tế, các ngân hàng cần cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn. Khả năng giảm chi phí huy động, phát triển dịch vụ trên nền tảng khách hàng hiện hữu, mở rộng nguồn thu phí và kiểm soát chi phí vận hành sẽ quyết định mức độ chống chịu trước sức ép lên NIM.

Đồng thời, chất lượng tín dụng cần được đặt ngang hàng với tốc độ tăng trưởng dư nợ. Việc mở rộng cho vay chỉ thực sự tạo giá trị khi đi cùng khả năng thẩm định, giám sát dòng tiền và thu hồi nợ phù hợp. Nếu chạy theo quy mô tín dụng để bù đắp biên lãi suy giảm, ngân hàng có thể đối mặt với rủi ro lớn hơn trong những kỳ tiếp theo.

Về dài hạn, nguồn thu ngoài lãi chỉ trở thành lợi thế cạnh tranh khi được xây dựng từ hệ sinh thái dịch vụ có khả năng tạo doanh thu thường xuyên, thay vì phụ thuộc vào những khoản lợi nhuận mang tính thời điểm. Đây cũng là hướng đi giúp ngân hàng giảm bớt sự phụ thuộc vào chênh lệch lãi suất đầu vào - đầu ra.

Khi mặt bằng lãi suất cho vay đi xuống, thước đo hiệu quả của ngân hàng vì thế cũng cần thay đổi. Không chỉ là tăng trưởng tín dụng bao nhiêu hay lợi nhuận tăng mạnh đến mức nào, vấn đề quan trọng hơn là ngân hàng tạo ra lợi nhuận từ đâu, với chi phí và mức độ rủi ro nào. Câu trả lời sẽ quyết định khả năng duy trì tăng trưởng bền vững khi dư địa sinh lời từ hoạt động cho vay truyền thống ngày càng chịu nhiều sức ép.