Năm 2025, Việt Nam tiếp tục thu hút FDI mạnh mẽ, với tổng vốn đăng ký khoảng 38,42 tỷ USD và vốn thực hiện đạt kỷ lục 27,62 tỷ USD, chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo và bất động sản, nhờ cải thiện môi trường đầu tư, thủ tục hành chính và chính sách ưu đãi cho dự án công nghệ cao.
Quan trọng hơn, vốn FDI không chỉ gia tăng về quy mô, mã còn chuyển dịch mạnh sang các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn…, đồng thời giữ vai trò “đầu tàu” dẫn dắt vốn trong nước, góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm đến đầu tư ngày càng hấp dẫn trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
THĂNG TRẦM SÓNG FDI
Việt Nam đón dự án FDI đầu tiên từ năm 1988, chỉ một năm sau khi Luật Đầu tư nước ngoài được thông qua. Đến nay, trên cả nước đang có hơn 44.000 dự án còn hiệu lực với số vốn đăng ký trên 500 tỷ USD.
Cùng với nỗ lực để đạt được con số trên, thu hút vốn FDI đã trải qua không ít thăng trầm, với 4 làn sóng nổi bật.
Từ số vốn và dự án đăng ký dè dặt trong những năm đầu, đến năm 1991, vốn FDI bắt đầu tăng nhanh, mở đầu cho làn sóng đầu tiên. Trong giai đoạn này, nhiều tập đoàn lớn trong lĩnh vực công nghiệp đã đầu tư vào Việt Nam như PouChen và Feng Tay (Đài Loan) gia công giày dép, Honda (Nhật Bản) sản xuất xe máy…
Sức nóng của đầu tư nước ngoài “hạ nhiệt” từ năm 1998 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á nhưng bắt đầu phục hồi trở lại từ 2002. Năm 2006, Việt Nam đón những dự án tỷ USD đầu tiên từ nhà sản xuất chip Intel (Mỹ) và tập đoàn thép Posco (Hàn Quốc). Thu hút FDI lần đầu vượt 10 tỷ USD, đánh dấu sự bùng nổ của làn sóng thứ hai và nhanh chóng lập kỷ lục về số vốn đăng ký gần 72 tỷ USD vào năm 2008. Đây cũng là thời điểm Samsung - doanh nghiệp FDI lớn nhất hiện nay - bắt đầu xây dựng nhà máy đầu tiên tại Bắc Ninh.
Sau giai đoạn này, FDI một lần nữa đi xuống do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Phải đến năm 2015, dòng vốn FDI mới tăng trưởng trở lại, mở đầu cho làn sóng thứ ba (từ 2015-2019) với mức tăng ổn định, và không có bước nhảy vọt như những năm 2005-2008.
Đồng thời, chiến lược thu hút FDI thời điểm này cũng có những thay đổi đáng chú ý với định hướng tập trung thu hút vốn chất lượng cao trong bối cảnh làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng diễn ra mạnh mẽ và Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do CPTPP, EVFTA.
Đỉnh “sóng” năm 2019 ghi nhận FDI đăng ký đạt hơn 38 tỷ USD. Cùng năm, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW, đặt nền móng quan trọng cho định hướng thu hút đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Dù vậy, tác động của đại dịch Covid-19 đã khiến các hoạt động đầu tư xuyên biên giới gián đoạn, dòng vốn từ đó cũng trồi sụt.
Năm 2022, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030 với các cơ chế ưu đãi đầu tư đặc biệt, cơ chế “luồng xanh” đối với dự án trọng điểm, quỹ hỗ trợ đầu tư. Nhờ đó, từ năm 2023, vốn FDI đã tăng mạnh trở lại, đưa Việt Nam bước vào làn sóng thứ tư với nhiều dự án tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng tái tạo.
Nhìn nhận về sự chuyển dịch của dòng vốn FDI trong làn sóng thứ tư, GS.TSKH Nguyễn Mại, Nguyên Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE) cho rằng, nguyên nhân đế từ cả nhân tố bên ngoài và cả nhân tố bên trong.
Nhân tố bên ngoài là Việt Nam có được nhiều thuận lợi trong việc nâng cấp quan hệ với nhiều nước, đồng thời, Việt Nam đã tham gia 17 hiệp định FTA thế hệ mới, trở thành cửa ngõ vào nhiều thị trường lớn với thuế quan ưu đãi, rất hấp dẫn với các tập đoàn đa quốc gia.
"Các nhà đầu tư đánh giá cao cố gắng của Nhà nước và Chính phủ Việt Nam trong việc hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật số và chuyển hướng sang tăng trưởng xanh".
GS.TSKH Nguyễn Mại, Nguyên Chủ tịch VAFIE
Trong nước, cùng với kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng duy trì ở mức cao, môi trường đầu tư cũng được cải thiện. Chính phủ và các bộ, ngành đã có nhiều giải pháp để cải cách thủ tục hành chính cũng như chuyển hướng sang kinh tế tuần hoàn với nhiều hướng để tăng trưởng xanh, bền vững, chuyển đổi số. Các khu công nghệ cao đã đạt được những con số rất ấn tượng, cả doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước đã hình thành một hệ sinh thái trong các khu công nghệ cao, cải thiện các hạ tầng kỹ thuật số, hạ tầng giao thông, đường cao tốc…
“Các nhà đầu tư đánh giá cao cố gắng của Nhà nước và Chính phủ Việt Nam trong việc hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật số và chuyển hướng sang tăng trưởng xanh”, GS-TSKH Nguyễn Mại nói.
TẬP TRUNG CHẤT LƯỢNG
Với trọng tâm thu hút FDI chuyển hướng sang các các lĩnh vực như điện tử bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng tái tạo... trong giai đoạn 2021-2025, chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục được cải thiện, thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược, dự án FDI quy mô lớn như dự án trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) của NVIDIA, Qualcomm, SAP; hay dự án của SYKE (Thụy Điển), LEGO (Đan Mạch). Chưa kể còn có các khoản đầu tư tỷ USD rót thêm của Samsung, LG, Foxconn, Luxshare…
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng vốn FDI đăng ký giai đoạn 2021-2025 đạt 184,2 tỷ USD, tăng gần 8,4% so với giai đoạn 2016-2020.
Với kết quả này, Việt Nam thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới. Riêng năm 2025, tổng vốn FDI đăng ký đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm 2024; vốn FDI thực hiện ước khoảng 27,62 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2024 và là mức cao nhất 5 năm, khẳng định vị thế của Việt Nam như một điểm đến FDI hàng đầu khu vực, bất chấp dòng vốn FDI toàn cầu thu hẹp.

Tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) 2025, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng đánh giá: “Những con số FDI đạt được cho thấy, Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư tiếp tục tin tưởng vào triển vọng tăng trưởng, môi trường đầu tư kinh doanh và vị thế kinh tế của Việt Nam”.
Cùng với đó, dòng vốn FDI đang thể hiện vai trò là một trong những động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của Việt Nam. Khu vực này đang đóng góp hơn 20% GDP; 15%-18% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội; khoảng 25,4%-28% tổng thu ngân sách; hơn 70% giá trị xuất khẩu và hơn 50% giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam.
"Việt Nam đang đứng trước thời cơ lớn để chuyển mình trở thành trung tâm sản xuất gắn với đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững trong khu vực. Việc hoàn thiện chính sách thu hút làn sóng FDI thế hệ mới vào các khu công nghiệp sẽ đóng vai trò quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu này".
Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương
Theo ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, Việt Nam đã và đang có nhiều điều kiện thuận lợi để thúc đẩy thu hút FDI, đặc biệt là dòng vốn chất lượng cao vào các khu công nghiệp. Các yếu tố này bao gồm môi trường chính trị, kinh tế, xã hội ổn định, an toàn; thị trường tiềm năng với khoảng 100 triệu dân và nguồn lao động trẻ, dồi dào.
Bên cạnh đó, một loạt cơ chế, chính sách thu hút FDI cũng được thiết kế cởi mở, thông thoáng và có trọng tâm hơn với hướng là cần có quy định rõ ràng về chi phí cho các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính và phát triển mô hình cộng sinh công nghiệp. Cơ chế này giúp tạo ra một động lực tài chính mạnh mẽ, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi sang công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và thực hiện các giải pháp thân thiện với môi trường.
“Việt Nam đang đứng trước thời cơ lớn để chuyển mình trở thành trung tâm sản xuất gắn với đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững trong khu vực. Việc hoàn thiện chính sách thu hút làn sóng FDI thế hệ mới vào các khu công nghiệp sẽ đóng vai trò quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu này”, ông Hiển nhận định.
ĐỂ KHÔNG BỎ LỠ
Tại nhiều diễn đàn, hội thảo diễn ra cuối năm 2025, hầu hết các chuyên gia đều đánh giá Việt Nam đang đứng trước một cơ hội mới, để thu hút FDI từ các lĩnh vực mang tính chiến lược như bán dẫn, AI, năng lượng tái tạo cùng việc hình thành trung tâm tài chính tại TP.HCM và Đà Nẵng.
Đặc biệt, trong năm 2025, khi môi trường đầu tư nước ngoài chịu tác động rõ nét từ chuỗi bất ổn toàn cầu, khiến nhiều nhà đầu tư quốc tế thận trọng hơn trong việc mở rộng các dự án mới hoặc cam kết đầu tư dài hạn, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao, điện tử và năng lượng, Việt Nam vẫn chứng minh được sức hút với dòng vốn ngoại.
Theo đánh giá của HSBC, FDI vẫn là một động lực chính tiếp sức cho tăng trưởng của Việt Nam. Sau những quan ngại về tác động của chính sách thuế quan, dòng vốn FDI vào Việt Nam vẫn tăng mạnh so với cùng kỳ. Đáng chú ý, cơ cấu danh mục FDI của Việt Nam đã có sự thay đổi trong năm 2025. Trong đó, Mỹ đã thay thế Hàn Quốc trở thành một trong 3 quốc gia đầu tư lớn nhất vào Việt Nam (cùng với Singapore và Trung Quốc).
“Nói cách khác, bất chấp những biến động thương mại, hai nền kinh tế lớn nhất thế giới vẫn tiếp tục rót vốn đầu tư vào Việt Nam”, chuyên gia của HSBC nhận định.
Báo cáo hồi tháng 11/2025 của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cũng khẳng định mặc dù dòng vốn FDI toàn cầu đang hướng vào trạng thái điều chỉnh (thu hẹp và trọng chất lượng hơn), Việt Nam vẫn có cơ hội trong làn sóng tái định vị sản xuất khu vực, đặc biệt trong các lĩnh vực xung lực như linh kiện điện tử, thiết bị y tế và năng lượng tái tạo.
Tuy vậy, theo Cục Đầu tư nước ngoài, điều này đặt ra yêu cầu cho Việt Nam không chỉ thu hút vốn lớn mà phải hướng tới dòng vốn chất lượng trong lĩnh vực công nghệ cao, chuỗi giá trị toàn cầu gắn kết doanh nghiệp trong nước và tăng giá trị gia tăng nội địa.
Để tạo điều kiện thu hút FDI thế hệ mới, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, tiến tới từng bước làm chủ công nghệ, thời gian qua Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, định hướng, chính sách nhất quán, xuyên suốt, có chiều sâu và lộ trình rõ ràng.
Đặc biệt, Luật Đầu tư (sửa đổi) và Luật Công nghệ cao (sửa đổi) được Quốc hội thông qua vào tháng 12/2025, được kỳ vọng sẽ tạo thêm cơ sở pháp lý để tạo ra một môi trường đầu tư minh bạch, công bằng và hấp dẫn với nhà đầu tư. Từ đó thu hút thêm dòng vốn FDI chất lượng cao, đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.
