"RIÊNG MỘT ĐẲNG CẤP"
Hầu hết các tổ chức quốc tế đã điều chỉnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 theo hướng khả quan hơn so với dự báo trước đó do nhiều nền kinh tế lớn thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ và tăng chi tiêu công.
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Liên minh Châu Âu (EU) dự báo tăng trưởng của kinh tế toàn cầu năm 2025 lần lượt đạt 3,2% và 3,1%, cùng điều chỉnh tăng 0,2 điểm phần trăm so với dự báo trước đó; Fitch Rating dự báo tăng trưởng toàn cầu đạt 2,5%, tăng 0,1 điểm phần trăm.
Tuy nhiên, dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 của các tổ chức quốc tế vẫn đều thấp hơn tăng trưởng của năm 2024.
Còn tại khu vực Đông Nam Á (ASEAN), các tổ chức quốc tế đều cho rằng tăng trưởng của Việt Nam 2025 cao nhất khu vực.
Đáng chú ý, thời điểm cuối quý III/2025, khi Việt Nam công bố GDP quý III hơn 8,2%, nhiều tổ chức quốc tế đã điều chỉnh nâng dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2025 của Việt Nam.
Trong đó, HSBC là tổ chức đưa ra dự báo lạc quan nhất với ước tính GDP năm 2025 của Việt Nam đạt mức 7,9% (tăng mạnh so với dự báo 6,6% trước đó). Sự điều chỉnh này dựa trên cơ sở GDP duy trì xu hướng quý sau cao hơn quý trước, đặc biệt, HSBC đánh giá mức tăng trưởng vượt kỳ vọng của Việt Nam trong quý III là “riêng một đẳng cấp” và tái khẳng định Việt Nam là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất ASEAN.

Thực tế đã chứng minh, Việt Nam vẫn là một trong những “ngôi sao” tăng trưởng của năm 2025, với GDP ước đạt 8,02%, thuộc nhóm dẫn đầu thế giới. Bình quân giai đoạn 2021 - 2025, tăng trưởng của Việt Nam đạt khoảng 6,3%, cao hơn giai đoạn trước. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97%, là mức cao nhất trong giai đoạn 2019 - 2025, tiếp tục là động lực chủ yếu của tăng trưởng.
Quy mô GDP năm 2025 của Việt Nam ước đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, vươn lên vị trí thứ 32 thế giới. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao, vượt mục tiêu đề ra.
Cùng với tăng trưởng được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao, kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức 3,31%, thấp hơn mục tiêu của Quốc hội.
Đồng thời, thu hút FDI vẫn là “điểm sáng” với số vốn thực hiện đạt kỷ lục 27,62 tỷ USD, tăng 9% so với năm trước; xuất khẩu tiếp tục phát huy vai trò trụ cột tăng trưởng của nền kinh tế; khu vực nông nghiệp tăng trưởng ổn định; khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp đạt mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay; khu vực dịch vụ phát triển sôi động, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, tín dụng cũng tăng mạnh, đạt mức cao nhất nhiều năm, góp phần hỗ trợ tăng trưởng ngắn hạn.
VỪA TĂNG TRƯỞNG,
VỪA ỔN ĐỊNH
Tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 12/2025, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết, năm qua, Việt Nam đã chứng kiến những biến động lớn trong thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt là các chính sách thuế đối ứng của Chính phủ Hoa Kỳ đã tác động mạnh đến kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam đã chứng tỏ năng lực chống chịu vững vàng trước các cú sốc bên ngoài, vượt qua nhiều bất lợi và vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ở mức cao, thuộc nhóm dẫn đầu thế giới.
Việt Nam tiếp tục duy trì xếp hạng tín nhiệm quốc gia ở mức BB+ và Ba2 với triển vọng ổn định theo đánh giá của Fitch, S&P và Moody's. Các tổ chức quốc tế đều ghi nhận và đánh giá cao kết quả chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, cũng như triển vọng tăng trưởng và khả năng nâng hạng tín nhiệm của Việt Nam trong thời gian tới.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi, những đánh giá tích cực từ các tổ chức tài chính và xếp hạng quốc tế uy tín cho thấy nền tảng kinh tế vĩ mô của Việt Nam tiếp tục được giữ vững và ổn định. Đây chính là yếu tố then chốt, tạo niềm tin cho người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư, mở rộng sản xuất - kinh doanh, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nhìn lại kinh tế Việt Nam năm 2025, ông Vũ Bình Minh, CFA, Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Khối Thị trường vốn và Dịch vụ Chứng khoán, HSBC Việt Nam đánh giá 2025 tiếp tục là một năm Việt Nam đạt được hầu hết những mục tiêu kinh tế vĩ mô đặt ra từ đầu năm - từ tăng trưởng kinh tế, đến kiểm soát lạm phát, cùng hàng loạt các chỉ tiêu khác.
“Năm 2025 có thể được xem là một năm "tái cân bằng" của kinh tế Việt Nam, khi tăng trưởng và ổn định không còn đặt trong thế đối lập, mà song hành với nhau trong điều kiện nhiều rủi ro đan xen”, ông Vũ Bình Minh nhìn nhận.
Theo chuyên gia HSBC, giữa bối cảnh biến động về thuế quan và sự điều chỉnh chiến lược của các tập đoàn đa quốc gia trong phân bổ chuỗi cung ứng tạo nên áp lực không nhỏ lên xuất khẩu, tỷ giá và tâm lý thị trường, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện khả năng chống chịu tương đối tốt. Quan trọng hơn, tăng trưởng không đến từ một động lực đơn lẻ, mà là kết quả của sự cải thiện đồng thời ở nhiều khu vực, từ sản xuất, xuất khẩu, dịch vụ cho tới tiêu dùng nội địa.
Phân tích sâu hơn về cấu trúc tăng trưởng năm 2025, ông Minh cho rằng các trụ cột mang tính bền vững tiếp tục đóng vai trò trung tâm. Khu vực sản xuất và xuất khẩu gắn với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài duy trì đà tăng, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, công nghệ, chế biến – chế tạo. Không chỉ tăng về sản lượng, Việt Nam đang từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhất là ở các khâu lắp ráp phức hợp và xử lý trung gian.
"Năm 2025 có thể được xem là một năm ‘tái cân bằng’ của kinh tế Việt Nam, khi tăng trưởng và ổn định không còn đặt trong thế đối lập, mà song hành với nhau trong điều kiện nhiều rủi ro đan xen".
Ông Vũ Bình Minh
Cùng với đó, khu vực dịch vụ, đặc biệt là du lịch, nổi lên như một trụ cột đỡ ngày càng rõ nét. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2025 đã vượt mức trước đại dịch, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực sang tiêu dùng nội địa và các ngành dịch vụ liên quan.
Một số động lực mang tính chu kỳ cũng đóng góp đáng kể cho tăng trưởng, song tiềm ẩn rủi ro về tính bền vững. Việc doanh nghiệp đẩy nhanh xuất khẩu trước thời điểm các biện pháp thuế quan mới có hiệu lực đã hỗ trợ tăng trưởng trong ngắn hạn, nhưng khó duy trì nếu bối cảnh thương mại toàn cầu tiếp tục bất lợi.
“Bài toán đặt ra cho giai đoạn tới là chuyển dần trọng tâm từ các động lực mang tính chu kỳ sang những trụ cột có nền tảng bền vững hơn, cả về cấu trúc sản xuất lẫn thị trường tiêu thụ”, ông Minh nhấn mạnh.
Ngoài ra, theo các chuyên gia, trong năm qua, tín dụng tăng mạnh, đạt mức cao nhất nhiều năm cũng góp phần hỗ trợ tăng trưởng ngắn hạn, nhưng đồng thời bộc lộ một số rủi ro khi dòng vốn vẫn tập trung đáng kể vào bất động sản và các lĩnh vực dễ hấp thụ vốn, trong khi khu vực sản xuất - kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận vốn còn hạn chế.
BÀI TOÁN
HAI CHỮ SỐ
Bước sang năm 2026, mục tiêu tăng trưởng của kinh tế Việt Nam đã được nâng lên một mục tiêu mới với kỳ vọng đạt từ 10% trở lên. Đây cũng là mục tiêu cho cả giai đoạn 5 năm 2026-2030.
Điều này đòi hỏi bên cạnh các động lực cũ, Việt Nam cần tiềm kiếm thêm những điểm cân bằng mới để vừa đạt được tăng trưởng vừa đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô.
“2026 sẽ tiếp tục là một năm Việt Nam đứng trước nhiều thách thức, nhưng cũng không thiếu những cơ hội. Việc tìm được điểm cân bằng sẽ giúp đưa quốc gia bước vào một kỷ nguyên mới vững mạnh hơn”, ông Vũ Bình Minh nhìn nhận.

Theo chuyên gia của HSBC, một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của Việt Nam trong năm tới sẽ tiếp tục đến từ khu vực đầu tư công. Thời gian qua, Việt Nam đã tập trung đẩy mạnh đầu tư công, đặc biệt vào cơ sở hạ tầng trọng điểm. Chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng chiếm khoảng 6-7% GDP, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Đây đã và đang là động lực quan trọng hỗ trợ đà tăng trưởng kinh tế.
“Khi những bất ổn bên ngoài gia tăng với rủi ro thương mại toàn cầu luôn hiện diện, việc tiếp tục tập trung đẩy mạnh đầu tư công sẽ là một trụ cột quan trọng đẩy mạnh tăng trưởng. Điều này đặc biệt ý nghĩa trong bối cảnh dư địa cho chính sách tiền tệ hạn chế, ở phía ngược lại, dư địa về chính sách tài khoá còn tương đối rộng mở khi tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam là thấp nhất trong số các nước ASEAN”, ông Minh nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa thương mại thông qua một loạt các hiệp định thương mại tự do, nâng cấp quan hệ với các quốc gia, cũng mở ra nhiều tiềm năng để Việt Nam đa dạng hóa thương mại, tạo dư địa cho xuất khẩu.
Về thị trường tài chính, Việt Nam đã có một năm 2025 tương đối thành công trong kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Năm 2026, định hướng của Ngân hàng Nhà nước là duy trì điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt để tạo điều kiện cho thị trường vận động trong biên độ ổn định sẽ tiếp tục tạo nền tảng thúc đẩy tăng trưởng.
TS. Quách Mạnh Hào, người sáng lập QMV Group cũng cho rằng, năm 2026, mục tiêu tăng trưởng hai chữ số vẫn có thể đạt được bằng mô hình 2025. Nhưng để tránh được rủi ro tăng trưởng “nóng” như cảnh báo của Ban Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia về việc hạn chế chính sách tiền tệ, đòi hỏi sự cải thiện năng lực của nền kinh tế, sự vượt lên của khu vực kinh tế tư nhân và đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả đầu tư công.
Tại hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 ngành Tài chính, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng khẳng định đẩy mạnh nguồn vốn đầu tư toàn xã hội sẽ là một trong những động lực quan trọng để Việt Nam đạt được mức tăng trưởng hai chữ số. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng: “Áp lực điều hành chính sách tài chính nhằm thúc đẩy vốn đầu tư xã hội đạt khoảng 40% GDP trong giai đoạn tới để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, là rất lớn”.
Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng cho biết, trong năm 2025, nguồn vốn đầu tư công cùng các chính sách hỗ trợ đã kích hoạt đầu tư ở cả khu vực công, FDI và tư nhân. Đồng thời, số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng vào khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87%, dự kiến cả năm tăng trưởng tín dụng có thể đạt 19%.
Sự nới lỏng, linh hoạt của chính sách tiền tệ và tài khóa đã góp phần đưa một nguồn lực khủng vào nền kinh tế và đó là một trong những yếu tố góp phần thúc đẩy nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng 8,02% trong năm 2025.
"Áp lực điều hành chính sách tài chính nhằm thúc đẩy vốn đầu tư xã hội đạt khoảng 40% GDP trong giai đoạn tới để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, là rất lớn".
Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng
Sang năm 2026, chi đầu tư phát triển dự kiến đạt khoảng 1,12 triệu tỷ đồng, tương đương 35,5% tổng chi ngân sách và tăng 41,7% so với năm 2025. Mức chi cao kỷ lục này cho thấy quyết tâm của Chính phủ trong việc xây dựng nền tảng hạ tầng mang tính đột phá, tạo dư địa cho tăng trưởng kinh tế trung và dài hạn.
Chia sẻ thêm về định hướng của cơ quan điều hành, Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi cho hay, bên cạnh đẩy mạnh huy động, phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn cho phát triển, Chính phủ sẽ hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy xây dựng, thực thi pháp luật nhằm kiến tạo và phát triển, giải quyết các cái điểm nghẽn về thể chế và xây dựng thể chế để tạo động lực, thể chế và kiến tạo, tức là chuyển từ quản lý sang kiến tạo để thúc đẩy.
Đồng thời, chuyển đổi mạnh mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát huy vai trò động lực của công nghiệp chế biến, chế tạo. Chuyển dịch sang nền kinh tế dựa vào cả đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Song song đó là phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực then chốt, các dự án lớn, các chuỗi giá trị trong và trong nước và toàn cầu theo đúng tinh thần Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị…
“Với sự chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ cùng việc triển khai hiệu quả các giải pháp trọng tâm, chúng tôi tin tưởng mục tiêu đạt tăng trưởng 2 con số trong năm 2026, tạo nền tảng vững chắc cho cả giai đoạn tiếp theo là có cơ sở và có thể đạt được”, Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi khẳng định.
