Sau hơn một thập kỷ tăng trưởng mạnh mẽ nhờ sự bùng nổ của dữ liệu di động, ngành viễn thông thế giới đang bước vào giai đoạn được nhiều tổ chức nghiên cứu gọi là “maturity phase” – giai đoạn tăng trưởng chậm và chịu áp lực tái cấu trúc. Báo cáo của GSMA và nhiều hãng tư vấn quốc tế cho thấy, doanh thu viễn thông toàn cầu những năm gần đây chỉ tăng ở mức thấp một chữ số, thậm chí tại nhiều thị trường phát triển đã rơi vào trạng thái đi ngang hoặc suy giảm.
Báo cáo của PWC tại Hội nghị di động thế giới (MWC) tại Barcelona tháng 3/2025 nhấn mạnh sự ảm đạm khi doanh thu viễn thông toàn cầu chỉ được dự báo tăng trưởng với tốc độ khoảng 2,9% mỗi năm.
Không ít tập đoàn viễn thông lớn đã phải thu hẹp hoạt động quốc tế, thoái vốn khỏi các thị trường xa hoặc kém hiệu quả, tập trung trở lại sân nhà để bảo toàn lợi nhuận. Ngay cả tại những thị trường đang phát triển - vốn từng được xem là “động cơ tăng trưởng mới” của ngành - cuộc cạnh tranh cũng ngày càng khốc liệt, biên lợi nhuận bị bào mòn nhanh chóng.
Nhưng tại Việt Nam, một doanh nghiệp viễn thông và công nghệ đã đi ngược xu hướng đó, khi công bố trong lễ tổng kết năm 2025 của mình về mức tăng trưởng 23,9% tại các thị trường nước ngoài. Mức tăng này gấp 7 lần trung bình ngành trên toàn cầu.
Đó là Viettel.
Ngược dòng bứt phá
Tính chung cả năm, doanh thu khối thị trường nước ngoài đạt 3,34 tỷ USD. Đây đã là năm thứ 9 liên tiếp Viettel duy trì mức tăng trưởng hai con số tại thị trường quốc tế – một thành tích hiếm gặp trong ngành viễn thông toàn cầu, đặc biệt khi phần lớn các thị trường mà Viettel hiện diện đều là các quốc gia đang phát triển, nơi rủi ro kinh tế – chính trị thường cao hơn mức trung bình.
Quy mô hoạt động của Viettel ở nước ngoài cũng tiếp tục được mở rộng. Tổng số thuê bao di động quốc tế đạt 56 triệu, chính thức vượt quy mô thuê bao tại Việt Nam. Trong 10 nước Viettel đầu từ thì có 7 nước Viettel dành vị trí dẫn đầu, gồm Unitel (Lào), Metfone (Campuchia), Mytel (Myanmar), Telemor (Đông Timor), Lumitel (Burundi), Natcom (Haiti) và Movitel (Mozambique).
Hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư ra nước ngoài cũng “vào guồng”. Năm 2025, dòng tiền chuyển về Việt Nam từ các thị trường quốc tế của tập đoàn này đạt 385,5 triệu USD, hoàn thành 120% kế hoạch. Tính đến hết năm 2025, tỷ lệ hoàn vốn đầu tư ra nước ngoài của Viettel đạt 91%, về đích sớm hơn so với kế hoạch mục tiêu.
Ở thị trường được đánh giá là khó khăn bậc nhất, Peru, tập đoàn này cũng ghi dấu ấn lớn khi công ty tại thị trường Bitel vươn lên vị trí số 2 tại, sớm hơn 2 năm so với mục tiêu, bất chấp việc phải cạnh tranh với những gã khổng lồ viễn thông tầm cỡ thế giới.
Đi ra nước ngoài từ cách tiếp cận khác biệt
Những kết quả Viettel đạt được trong những năm gần đây không đến từ may mắn, mà từ một chiến lược đầu tư được xây dựng trên tầm nhìn dài hạn và sự am hiểu thị trường bản địa. Vượt ra ngoài các chỉ số tăng trưởng, hoạt động của Viettel tại nhiều quốc gia cho thấy một mô hình doanh nghiệp viễn thông tìm cách cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và những giá trị xã hội bền vững.
Một trong những điểm đáng chú ý là việc Viettel lựa chọn đầu tư vào những thị trường còn nhiều thách thức – nơi hạ tầng viễn thông chưa hoàn thiện, môi trường kinh doanh phức tạp và nhu cầu kết nối còn lớn. Haiti là một ví dụ. Khi Viettel bắt đầu triển khai dự án tại đây vào năm 2010, quốc gia này vừa trải qua trận động đất lịch sử. Việc tiếp tục đầu tư trong hoàn cảnh khó khăn phản ánh cách Viettel tiếp cận thị trường như một cam kết dài hạn, thay vì một dự án ngắn hạn mang tính thời điểm.
Thay vì tập trung vào các thị trường đã phát triển và cạnh tranh cao, Viettel ưu tiên những nền kinh tế đang phát triển, nơi viễn thông và công nghệ số vẫn còn nhiều dư địa để đóng góp cho tăng trưởng và đời sống xã hội. Cách tiếp cận này vừa mở ra cơ hội kinh doanh, vừa tạo điều kiện để công nghệ đóng vai trò thiết thực hơn đối với người dân.
Một trụ cột khác là chiến lược bản địa hóa. Viettel xây dựng các thương hiệu gắn với từng quốc gia như Metfone, Unitel hay Mytel, giúp dịch vụ trở nên gần gũi và phù hợp với nhu cầu địa phương. Việc linh hoạt điều chỉnh mô hình kinh doanh, sản phẩm và giá cước theo từng thị trường đã giúp các mạng này từng bước mở rộng tập khách hàng và củng cố vị thế cạnh tranh.
Song song với dịch vụ viễn thông truyền thống, Viettel cũng triển khai nhiều nền tảng số như ví điện tử, chính phủ điện tử và các giải pháp giáo dục, y tế trực tuyến. Ở một số thị trường châu Phi và Đông Nam Á, những dịch vụ này góp phần giúp người dân tiếp cận các tiện ích số cơ bản, từ thanh toán, học tập đến tiếp cận thông tin và dịch vụ công.
Cách tổ chức hoạt động cũng cho thấy sự chú trọng đến hiện diện lâu dài. Nhiều nhân sự và kỹ sư Viettel làm việc trực tiếp tại các thị trường, phối hợp chặt chẽ với đối tác và chính quyền địa phương, qua đó hiểu rõ hơn bối cảnh văn hóa – xã hội và xây dựng mối quan hệ hợp tác bền vững. Bên cạnh kinh doanh, Viettel còn tham gia các chương trình hỗ trợ cộng đồng trong lĩnh vực giáo dục, y tế và hạ tầng số, với một số đơn vị được ghi nhận tại các giải thưởng về phát triển bền vững.
Ở tầm nhìn dài hạn, triết lý Go Global của Viettel cũng được định hình rõ hơn. Tại Hội nghị quân chính, tổng kết năm 2025 diễn ra mới đây, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel, Trung tướng Tào Đức Thắng nhấn mạnh: “Năm 2026 được nhìn nhận như một năm khai mở kỷ nguyên vươn mình của đất nước, chuyển từ hoạch định tư duy, thể chế, định hướng sang tổ chức thực hiện.
Vì thế, với Viettel, chiến lược đến 2030 trở thành Tập đoàn công nghệ toàn cầu đã rõ, chúng tôi chọn phương châm năm 2026 tập trung vào hành động, cụ thể là Chủ động hơn - Thần tốc hơn - Táo bạo hơn - Hiệu quả hơn. Hiệu quả phải thấy được ở khách hàng, ở xã hội, ở đất nước – đó là những động lực để Viettel tiếp tục phát triển một cách bền vững”.
Trong bối cảnh ngành viễn thông toàn cầu đang tìm kiếm các mô hình tăng trưởng mới, cách Viettel đi vào những thị trường khó, đầu tư dài hạn và gắn lợi ích doanh nghiệp với sự phát triển của xã hội sở tại đang tạo nên một hướng tiếp cận tối ưu, góp phần định hình vai trò của doanh nghiệp Việt Nam cũng như hình ảnh Việt Nam trên bản đồ kinh tế thế giới.
