Động lực tăng trưởng dịch chuyển

Sau giai đoạn tập trung phục hồi kinh tế hậu đại dịch với nhiều chính sách hỗ trợ liên tục, ngành Ngân hàng đang bước vào giai đoạn bao gồm cả những cơ hội lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Theo CTCK Rồng Việt (VDSC), bối cảnh vĩ mô với mục tiêu tăng trưởng GDP đầy tham vọng ở mức 10% và dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ hạn chế, đồng nghĩa với việc động lực tăng trưởng được chuyển trọng tâm sang chính sách tài khóa và thị trường vốn sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong việc huy động, phân bổ vốn đầu tư dài hạn.

Tuy nhiên, song song với sự dịch chuyển về cấu trúc, hệ thống ngân hàng vẫn phải đối mặt với những áp lực ngắn hạn mang tính chu kỳ, nổi bật nhất là bài toán thanh khoản và cân đối nguồn vốn. Báo cáo của VDSC nêu rõ, áp lực thanh khoản đã và đang đẩy mặt bằng lãi suất tăng từ cuối năm 2025 cho tới nay.

Cụ thể hơn, thông tin từ CTCK BIDV (BSC) cho biết, tính đến hết tháng 2/2026, tăng trưởng tín dụng hệ thống đạt 1,44% trong khi tăng trưởng huy động (có bao gồm giấy tờ có giá - GTCG) lại ghi nhận mức sụt giảm 0,11%. Sự mất cân đối này khiến BSC ước tính tỷ lệ LDR (tín dụng/tổng huy động) thị trường cấp 1 của toàn hệ thống đã vượt mức 100%. Chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động được BSC đánh giá là chưa thể giải quyết trong ngắn hạn do những yếu tố mang tính cấu trúc, khiến việc cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng tín dụng và mặt bằng lãi suất trong năm 2026 vẫn rất thách thức.

hinh-anh_2026-03-30_111536772.png
Kế hoạch chi đầu tư công trên 1,1 triệu tỷ đồng và bội chi ngân sách hơn 600.000 tỷ đồng trong năm 2026 được kỳ vọng là điểm tựa cho thanh khoản của hệ thống ngân hàng

Để giải quyết bài toán này, cơ quan điều hành đang áp dụng chính sách rất linh hoạt. Theo phân tích của VDSC, làn sóng đầu tư công mạnh mẽ đang tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất định cho hoạt động ngân hàng liên quan đến vấn đề thanh khoản. Chi đầu tư phát triển dự toán năm 2026 đạt trên 1,1 triệu tỷ đồng (tăng hơn 40% so với năm 2025) và bội chi ngân sách dự toán hơn 600.000 tỷ đồng (tương ứng 4,2% GDP) sẽ tạo ra dòng tiền lớn bơm vào nền kinh tế, bồi đắp trực tiếp vào nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng, từ đó giảm áp lực lên lãi suất liên ngân hàng.

hinh-anh_2026-03-30_111719568.png
Nguồn: BSC

Đồng quan điểm, BSC cho biết thêm về khả năng Kho bạc Nhà nước (KBNN) sẽ nâng mức trần tiền gửi nhàn rỗi vào hệ thống NHTM từ 50% hiện tại (theo Nghị định 14/2025/NĐ-CP) lên 60%. Nếu thông tin này chính xác, BSC dự báo số dư tiền gửi KBNN trên BCTC quý I/2026 của các ngân hàng quốc doanh có thể vượt mức đỉnh lịch sử khoảng 600.000 tỷ đồng. Dù vậy, trên thị trường cấp 1, BSC ghi nhận lãi suất huy động tăng ở phân khúc khách hàng ưu tiên (có số tiền gửi tiết kiệm từ hàng trăm tỷ đồng trở lên).

Thách thức tăng trưởng tín dụng, áp lực nợ xấu

Về định hướng điều hành, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có những định hướng chính sách tiền tệ thận trọng hơn ngay từ đầu năm khi đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% và giới hạn mức trần cho tăng trưởng tín dụng bất động sản. Số liệu từ BSC cho thấy, tại cuối năm 2025, tỷ trọng dư nợ lĩnh vực bất động sản chiếm tới 25,5% dư nợ toàn nền kinh tế, đây là mức cao trong lịch sử.

Việc kiềm chế động lực tăng trưởng truyền thống này khiến chuyên gia BSC điều chỉnh giảm nhẹ kỳ vọng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống từ mức tối thiểu 18% về mức 17%. VDSC cũng đồng tình khi nhận định mặt bằng lãi suất cao ảnh hưởng tới nhu cầu tín dụng và việc siết tín dụng bất động sản sẽ làm chậm đà tăng trưởng chung.

“Trong bối cảnh thách thức này, chúng tôi dự phóng tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngành Ngân hàng sẽ giảm tốc trong năm 2026 với dự báo tổng tăng trưởng tín dụng của danh mục các ngân hàng mà chúng tôi theo dõi giảm xuống 17%, từ mức 20% của năm 2025”, chuyên gia của VDSC cho biết.

Rủi ro nợ xấu cũng đặt ra cho hệ thống ngân hàng một bài toán đầy thách thức khác. BSC cho rằng, việc điều chỉnh tăng lãi suất thả nổi (phổ biến 14-15%) cũng như lãi suất cố định (9-10%) cho các khoản vay nhà ở sẽ khiến khả năng trả nợ của khách hàng chịu nhiều áp lực trong bối cảnh sức cầu tiêu dùng phục hồi chưa đồng đều. BSC cảnh báo rủi ro nợ xấu có thể quay trở lại nhanh hơn dự kiến. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu nội bảng có thể duy trì thấp nhờ các chính sách cơ cấu nợ (Thông tư 03/2021/TT-NHNN, Thông tư 02/2023/TT-NHNN, Thông tư 53/2024/TT-NHNN).

Bên cạnh các yếu tố nội tại, ngành Ngân hàng còn đối mặt với với những “cơn gió ngược” từ bên ngoài khi rủi ro địa chính trị từ xung đột Trung Đông khiến nền lãi suất thị trường 2 tiếp tục neo cao trước áp lực tỷ giá USD/VND. Trong bối cảnh đó, chi phí vốn và mất cân đối tín dụng - huy động có thể bị nới rộng nếu dòng vốn USD rút ra tìm nơi trú ẩn.

Dư địa cải thiện NIM

Dư địa cải thiện NIM được đánh giá là một điểm sáng đáng chú ý của các ngân hàng trong năm 2026. Ông Đỗ Tùng, chuyên gia phân tích VDSC cho rằng, dư địa mở rộng NIM trong ngắn hạn được thúc đẩy bởi quá trình định giá lại lãi suất của các khoản vay, đặc biệt trong giai đoạn 3 tháng đầu năm 2026 khi quy mô các khoản vay được điều chỉnh lãi suất lên mức cao hơn đáng kể (theo biến động của lãi suất cơ sở hay lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 3-6 tháng đối với các khoản vay ngắn hạn và kỳ hạn từ 12 tháng trở lên đối với các khoản vay trung dài hạn) so với quy mô nguồn vốn huy động được điều chỉnh lãi suất trong cùng thời gian (8 tỷ đồng so với 4 triệu tỷ đồng).

Trong trung hạn, khả năng mở rộng NIM sẽ phụ thuộc vào việc các ngân hàng có thể gia tăng biên độ giữa lãi suất cho vay và chi phí vốn, trong bối cảnh không chịu quá nhiều sức ép phải giảm giá để cạnh tranh nhờ NHNN thắt chặt kiểm soát hạn mức tín dụng trong năm nay. Bên cạnh đó, NIM còn phụ thuộc vào khả năng gia tăng tỷ trọng các sản phẩm có lợi suất cao (chẳng hạn như cho vay tín chấp, cho vay tiêu dùng…) trong cơ cấu danh mục tín dụng.

Yếu tố cuối cùng là khả năng bảo vệ tỷ lệ CASA trong bối cảnh lãi suất huy động tăng mạnh làm gia tăng nhu cầu gửi tiền có kỳ hạn. Trong trường hợp này, VDSC kỳ vọng các ngân hàng thương mại quốc doanh có lợi thế hơn nhờ danh mục tín dụng tập trung vào kỳ hạn ngắn, giúp giảm áp lực tăng chi phí huy động vốn trung dài hạn, vốn có ảnh hưởng lớn hơn tới tỷ lệ CASA so với các kỳ hạn ngắn.

Tuy nhiên, BSC có góc nhìn thận trong hơn khi nhận thấy rủi ro điều chỉnh giảm dự báo NIM toàn ngành do chi phí vốn có thể tăng mạnh hơn dự kiến. Theo số liệu của BSC, NIM bình quân của danh sách ngân hàng theo dõi trong năm 2025 đạt mức 3,1%, giảm 32 điểm phần trăm so với năm 2024 và đã chạm mức thấp nhất trong 5 năm qua. Ngoài ra, BSC ước tính lãi suất huy động 12 tháng tăng 1 điểm phần trăm có thể khiến tỷ lệ CASA toàn ngành giảm khoảng 1,5 điểm phần trăm.

Triển vọng phân hóa và chiến lược lựa chọn danh mục đầu tư

Dù đối mặt với nhiều khó khăn, vai trò của thị trường vốn sẽ trở nên quan trọng hơn, mở ra cơ hội tăng trưởng thu nhập phí đáng kể cho các ngân hàng có năng lực mạnh về ngân hàng đầu tư, tư vấn thu xếp vốn và bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp, theo nhận định của chuyên gia VDSC.

Mặt khác, NHNN gần đây đã đề xuất về cơ chế đặc thù nhằm tăng khả năng cung ứng vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm. Theo đó, NHNN đề xuất nới hạn mức cấp tín dụng tối đa cho 1 khách vay lên 38% (hiện 13%), cho 1 khách hàng và người có liên quan lên 52% (hiện 21%) vốn tự có.

“Đây là mức tăng rất đáng kể và dự kiến sẽ tạo hành lang cho các ngân hàng có hệ sinh thái lớn tham gia sâu vào các dự án hạ tầng quan trọng”, BSC đánh giá.

hinh-anh_2026-03-30_111837121.png

Về mặt định giá, BSC giữ nguyên quan điểm trung lập với toàn ngành dù mặt bằng định giá đã điều chỉnh đáng kể. Dự báo tăng trưởng lợi nhuận trước thuế (LNTT) toàn ngành cho năm 2026 của danh sách theo dõi được duy trì ở mức 16% so với cùng kỳ, nhưng có rủi ro điều chỉnh giảm nếu môi trường vĩ mô bất ổn kéo dài sang nửa cuối năm.

Về chiến lược đầu tư, BSC tiếp tục ưa thích những ngân hàng có khả năng đảm bảo tăng trưởng lợi nhuận với lợi thế về hệ sinh thái và hạn mức tín dụng bao gồm MBB, TCB, VPB, HDB. Tương tự, VDSC đánh giá cao tiềm năng tăng trưởng vượt trội của HDB.

Trong môi trường rủi ro gia tăng ngắn hạn, các cổ phiếu có beta thấp (cổ phiếu có mức biến động nhỏ hơn so với thị trường chung) như ACB, VCB được BSC xem là lựa chọn hợp lý để bảo vệ danh mục.

Trong khi đó, CTCK SSI (SSI Research) khuyến nghị cổ phiếu CTG khi cho rằng tăng trưởng lợi nhuận ổn định đang góp phần cải thiện hệ số an toàn vốn (CAR) của ngân hàng, với mức tăng khoảng 40 điểm cơ bản mỗi năm, qua đó tạo dư địa cho tăng trưởng tín dụng bền vững trong trung hạn. Đối với VCB, ngân hàng tiếp tục duy trì chất lượng tài sản thuộc nhóm tốt nhất ngành, với tỷ lệ nợ xấu ở mức 0,58% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 259% – cao nhất hệ thống. Bên cạnh đó, tiền gửi khách hàng doanh nghiệp tăng 14% so với cùng kỳ trong năm 2025, góp phần củng cố nền tảng thanh khoản vững chắc.

Ngành Ngân hàng đang đứng giữa bức tranh đan xen giữa áp lực chi phí vốn, nợ xấu và những cơ hội mới từ đầu tư công và thị trường vốn. Theo BSC, trong môi trường bất định này, các ngân hàng có tỷ lệ dự phòng bao phủ nợ xấu (LLCR) dày và hệ sinh thái khách hàng đặc thù là các tập đoàn lớn sẽ có sức chống chịu tốt hơn. Khả năng thích nghi với nền lãi suất mới và tận dụng các chính sách hỗ trợ từ tài khóa sẽ là chìa khóa quyết định sự phân hóa giá trị giữa các ngân hàng trong kỷ nguyên tăng trưởng mới.