Ngày 18/9, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1809/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 xây dựng hệ thống tổ chức tín dụng hoạt động lành mạnh, minh bạch, có năng lực quản trị và đáp ứng các chuẩn mực an toàn cao hơn.
Một định hướng đáng chú ý đối với hệ thống ngân hàng trong những năm tới là thay đổi cách phân bổ tín dụng: hạn chế dòng vốn tập trung quá lớn tại một số khách hàng, đồng thời tìm thêm phương thức đưa vốn đến khu vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Kiểm soát vốn tập trung vào nhóm khách hàng lớn
Trong nhóm giải pháp xử lý rủi ro tại các tổ chức tín dụng, Chính phủ yêu cầu chấm dứt tình trạng cho vay tập trung vào một số doanh nghiệp, nhóm khách hàng lớn hoặc dự án thuộc cùng hệ sinh thái, “sân sau” của tập đoàn trong trường hợp việc tập trung này có thể gây rủi ro và ảnh hưởng tới an toàn của tổ chức tín dụng.
Yêu cầu này không chỉ dừng ở khâu cấp vốn mới. Các ngân hàng phải tăng cường kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ đối với chất lượng cũng như mức độ tập trung tín dụng; theo dõi khách hàng, nhóm khách hàng liên quan và các khoản vốn được cấp cho những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao. Hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp cũng nằm trong phạm vi phải giám sát chặt hơn.
Hai khu vực được đề án lưu ý là bất động sản và chứng khoán. Các tổ chức tín dụng phải theo dõi những trường hợp dư nợ bất động sản tập trung ở mức cao, cũng như tín dụng tăng mạnh để phục vụ đầu tư, kinh doanh chứng khoán. Song song đó là yêu cầu nâng chất lượng thẩm định và tăng kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay để phát hiện sớm nguy cơ phát sinh nợ nhóm 2 và nợ xấu.
Ngân hàng Nhà nước cũng được giao giám sát đặc biệt những tổ chức tín dụng có mức độ tập trung tín dụng cao, tăng trưởng cho vay nhanh, tỷ lệ nợ xấu lớn hoặc dư nợ tại các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro tăng mạnh và chiếm tỷ trọng đáng kể. Công tác thanh tra và giám sát phải được kết nối nhằm cảnh báo và xử lý sớm rủi ro trước khi ảnh hưởng đến toàn hệ thống.
Rà soát tín dụng với cổ đông và người liên quan
Một lớp kiểm soát khác tập trung vào quan hệ giữa ngân hàng với cổ đông, lãnh đạo và những người có liên quan.
Theo đề án, các tổ chức tín dụng phải thường xuyên theo dõi biến động sở hữu cổ phần và hoạt động cấp tín dụng đối với cổ đông, lãnh đạo, người có liên quan cũng như các nhóm cổ đông cần quan tâm. Mục tiêu là phát hiện sớm dấu hiệu vi phạm quy định về sở hữu hoặc những rủi ro có thể ảnh hưởng tới an toàn hoạt động của ngân hàng.
Các trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần vượt giới hạn pháp luật cũng phải tiếp tục được rà soát, xử lý. Đặc biệt, đề án yêu cầu phối hợp trong quá trình thoái vốn với những cổ đông là tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước và người có liên quan nếu tỷ lệ sở hữu chưa phù hợp quy định.
Không chỉ chất lượng tài sản, cách các ngân hàng ghi nhận lợi nhuận cũng được đưa vào diện kiểm soát.
Những khoản lãi dự thu có giá trị lớn, thời gian dự thu kéo dài hoặc tăng mạnh phải được rà soát. Trường hợp ghi nhận không đúng quy định, ngân hàng phải thực hiện thoái lãi dự thu, nhằm bảo đảm lợi nhuận thể hiện đúng tình hình kinh doanh thực tế. Các tổ chức tín dụng đồng thời phải phân loại nợ, trích lập dự phòng và phản ánh trung thực chất lượng tín dụng.

Không chỉ “siết”, cách cho doanh nghiệp vay cũng phải thay đổi
Đề án dành một nhóm giải pháp riêng cho việc tăng khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Một trong những thay đổi đáng chú ý là định hướng giảm sự phụ thuộc quá lớn vào tài sản thế chấp khi xem xét cho vay.
Các tổ chức tín dụng được yêu cầu đẩy mạnh cho vay dựa trên phương án sản xuất kinh doanh, khả năng mở rộng thị trường đầu ra, chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, dữ liệu thanh toán và dòng tiền. Những loại tài sản bảo đảm phù hợp với pháp luật cũng cần được khai thác linh hoạt hơn.
Cơ chế bao thanh toán sẽ tiếp tục được hoàn thiện. Đây được xem là một trong những công cụ giúp doanh nghiệp cải thiện dòng tiền và giảm sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm khi tiếp cận vốn ngân hàng.
Các ngân hàng cũng được yêu cầu phát triển sản phẩm tín dụng phù hợp với từng loại hình và quy mô doanh nghiệp, tăng ứng dụng công nghệ trong quá trình cấp vốn, đồng thời đơn giản hóa thủ tục để doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn.
Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tiếp tục được triển khai nhằm ghi nhận và xử lý những vướng mắc thực tế trong vay vốn. Dù vậy, yêu cầu xuyên suốt vẫn là tăng trưởng tín dụng phải bảo đảm an toàn và hiệu quả, ưu tiên vốn cho sản xuất kinh doanh cũng như các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Ngoài ra, đề án cũng đặt mục tiêu xây dựng và triển khai phương án xử lý riêng đối với từng tổ chức tín dụng yếu kém, gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và quỹ tín dụng nhân dân. Nguyên tắc đặt ra là không để xảy ra tình trạng đổ vỡ hoặc mất an toàn ngân hàng ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước.
Đến năm 2030, Ngân hàng Nhà nước sẽ hoạt động theo mô hình ngân hàng trung ương hiện đại hơn, với khả năng phân tích, dự báo và cảnh báo sớm dựa trên dữ liệu; trong khi hệ thống tổ chức tín dụng phải nâng chuẩn quản trị, công khai, minh bạch và tăng khả năng chống chịu trước rủi ro.
