Giàn khoan dầu ở Texas, Mỹ. (Ảnh: THX/TTXVN)

Mỹ tiếp tục giữ vị trí là nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới, làm thay đổi trật tự năng lượng toàn cầu vốn do Saudi Arabia và Nga chi phối trong nhiều thập kỷ.

Sự thay đổi này đang giúp các công ty năng lượng Mỹ gia tăng ảnh hưởng trên thị trường quốc tế, trong bối cảnh cuộc xung đột giữa Mỹ và Iran tiếp tục định hình lại dòng chảy thương mại năng lượng toàn cầu.

Theo dữ liệu của công ty theo dõi vận tải biển Vortexa, xuất khẩu dầu thô và nhiên liệu của Mỹ trong tháng 5/2026 đạt khoảng 10,5 triệu thùng/ngày nhờ sản lượng cao và việc giải phóng dầu từ kho dự trữ chiến lược. Đây là tháng thứ ba liên tiếp Mỹ giữ vị trí số một thế giới về xuất khẩu dầu.

Trong khi đó, xuất khẩu dầu của Nga trong tháng 5 đạt khoảng 7 triệu thùng/ngày, còn Saudi Arabia xuất khẩu khoảng 5,9 triệu thùng/ngày. So với năm 2025, khoảng cách hiện nay đã nới rộng đáng kể. Khi đó, Saudi Arabia xuất khẩu khoảng 8,1 triệu thùng/ngày, xuất khẩu dầu của Mỹ đạt 6,6 triệu thùng/ngày và xuất khẩu dầu của Nga khoảng 5,8 triệu thùng/ngày.

Việc Mỹ giành vị trí dẫn đầu được xem là một bước ngoặt đáng chú ý đối với một quốc gia từng phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ Trung Đông trong nhiều thập kỷ. Năm 1973, Mỹ thậm chí còn phải đối mặt với lệnh cấm vận dầu mỏ từ một số thành viên của Tổ chức các Nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) nhằm đáp trả sự ủng hộ của nước này đối với Israel.

Tình thế bắt đầu thay đổi sau năm 2010, khi sản lượng dầu khí từ các mỏ đá phiến của Mỹ tăng mạnh. Nhờ đó, Mỹ lần lượt trở thành nhà sản xuất khí đốt tự nhiên lớn nhất và sau đó là nhà sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới.

Từ tháng 2/2026, cuộc xung đột giữa Mỹ và Iran đã làm gián đoạn hoạt động xuất khẩu dầu của Saudi Arabia, trong khi xuất khẩu dầu của Nga chịu ảnh hưởng bởi các hoạt động quân sự của Ukraine và các lệnh trừng phạt của Mỹ liên quan đến xung đột tại Ukraine. Trong bối cảnh đó, Mỹ đã vượt lên trở thành nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới.

Bà Michelle Brouhard, phụ trách chính sách tại công ty theo dõi vận tải biển Kpler, nhận định rằng Mỹ hiện đã có thêm một công cụ gây ảnh hưởng mà trước cuộc xung đột với Iran họ chưa thực sự nhận ra, đó là xuất khẩu năng lượng.

Sự trỗi dậy của Mỹ có thể làm suy giảm khả năng chi phối giá dầu của OPEC và các đồng minh, còn gọi là nhóm OPEC+, vốn nắm giữ ảnh hưởng lớn trên thị trường dầu mỏ toàn cầu trong nhiều năm qua. Tổng thống Mỹ Donald Trump từ lâu đã chỉ trích OPEC vì cho rằng tổ chức này thao túng thị trường dầu. OPEC cũng vừa chịu thêm sức ép khi Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), một trong những thành viên lớn nhất, rời tổ chức sau gần 60 năm tham gia.

Vị thế nước xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới cũng mang lại cho Mỹ thêm một đòn bẩy trong quan hệ với các đồng minh và đối thủ, bên cạnh sức mạnh quân sự và vai trò thống trị của đồng USD trong hệ thống tài chính toàn cầu.

Theo bà Brouhard, nhiều quốc gia hiện phụ thuộc vào nguồn cung dầu và khí đốt từ Mỹ, tạo ra lợi thế đáng kể cho nước này. Bà cho biết Mỹ hiện là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho châu Âu và là nhà cung cấp nhiên liệu chưng cất lớn thứ hai tại khu vực này. Tuy nhiên, sự phụ thuộc ngày càng lớn vào nguồn cung từ Mỹ cũng khiến giới chức Liên minh châu Âu (EU) lo ngại.

Ban đầu, EU coi sự bùng nổ sản xuất dầu khí của Mỹ là giải pháp thay thế nguồn cung từ Nga và Trung Đông. Song hiện nay, nhiều quan chức châu Âu cảnh báo về nguy cơ phụ thuộc quá mức vào các công ty năng lượng Mỹ, nhất là trong bối cảnh hai bên đang có nhiều bất đồng liên quan đến thuế quan và những quy định về môi trường.

Tại Nga, những thay đổi trên thị trường năng lượng toàn cầu cũng đang gây ra những lo ngại. Ông Igor Sechin, Giám đốc điều hành tập đoàn dầu khí Rosneft, cho rằng các công ty năng lượng Mỹ là bên hưởng lợi lớn nhất từ việc eo biển Hormuz bị đóng cửa.

Dù vậy, xu hướng Mỹ vượt Saudi Arabia và Nga về tốc độ tăng trưởng sản lượng lên thực tế đã hình thành từ trước khi cuộc xung đột với Iran nổ ra. Sản lượng dầu thô và các loại nhiên liệu lỏng của Mỹ đã tăng gần gấp ba lần kể từ năm 2000, lên khoảng 22 triệu thùng/ngày.

Trong khi đó, sản lượng của Saudi Arabia chủ yếu dao động trong khoảng 10-12 triệu thùng/ngày tùy theo hạn ngạch của OPEC. Sản lượng dầu và nhiên liệu lỏng của Nga tăng từ khoảng 6 triệu thùng/ngày lên 10 triệu thùng/ngày trong giai đoạn 2000-2010, sau đó tăng thêm khoảng 2 triệu thùng/ngày trong thập niên 2010. Tuy nhiên, kể từ năm 2020, sản lượng của Nga hầu như chững lại và giảm xuống dưới 10 triệu thùng/ngày.

Nhu cầu dầu mỏ toàn cầu đã tăng từ 87 triệu thùng/ngày vào năm 2010 lên 104 triệu thùng/ngày trong năm 2025. Phần lớn mức tăng nhu cầu này được đáp ứng nhờ sự bùng nổ sản xuất dầu tại Mỹ.

Một cột mốc quan trọng khác diễn ra vào năm 2015, khi Mỹ bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu kéo dài 40 năm được áp dụng sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ Arab. Quyết định này mở đường cho dầu mỏ Mỹ tiếp cận rộng rãi hơn với thị trường thế giới. Sau một thập kỷ, Mỹ đã trở thành nước xuất khẩu dầu lớn nhất toàn cầu, trái ngược với những dự báo trước đó cho rằng đà tăng trưởng sản lượng sẽ sớm suy yếu.

Khác với Saudi Arabia và Nga, nơi chính phủ đóng vai trò lớn trong việc quyết định sản lượng và xuất khẩu, ngành dầu khí Mỹ chủ yếu do các doanh nghiệp tư nhân dẫn dắt và hoạt động theo tín hiệu thị trường.

Theo ông Kenneth Medlock III, chuyên gia kinh tế năng lượng tại Viện Chính sách Công Baker, khi giá dầu tăng, các công ty Mỹ thường mở rộng sản xuất, qua đó giúp hạ nhiệt giá cả. Ngược lại, khi giá dầu giảm, họ sẽ cắt giảm sản lượng, góp phần hỗ trợ giá phục hồi. Ông cho rằng cơ chế này có nhiều điểm tương đồng với vai trò điều tiết thị trường mà OPEC và Saudi Arabia từng thực hiện thông qua công suất dự phòng, nhưng mang tính thị trường nhiều hơn là một công cụ chiến lược.

Trong những năm kể từ khi xung đột tại Ukraine bùng phát vào năm 2022, châu Âu ngày càng phụ thuộc vào dầu mỏ Mỹ. Từ đầu năm 2026 đến nay, khoảng 47% lượng dầu xuất khẩu của Mỹ được chuyển tới châu Âu, so với mức 37% vào năm 2021.

Tại châu Á, khu vực vốn lâu nay phụ thuộc chủ yếu vào nguồn cung từ Trung Đông, nhu cầu đối với dầu mỏ Mỹ cũng tăng nhanh do gián đoạn nguồn cung bởi xung đột giữa Mỹ-Israel và Iran. Trong tháng 5/2026, châu Á chiếm khoảng 46% lượng dầu xuất khẩu của Mỹ, cao hơn mức tương ứng khoảng 37% của cùng kỳ năm trước.