CTCP Tập đoàn Masan (Masan, mã: MSN) vừa công bố kết quả kinh doanh chưa kiểm toán quý III và 9 tháng đầu năm 2026.
Trong quý III/2026, Masan ghi nhận doanh thu thuần đạt 36.981 tỷ đồng, tăng 74,7% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số (NPAT Pre-MI) đạt 4.552 tỷ đồng, gấp 2,4 lần cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số đạt 3.671 tỷ đồng, gấp 3 lần.
Lũy kế 9 tháng, doanh thu thuần 89.118 tỷ đồng, tăng 52,7%. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 10.325 tỷ đồng, gấp 2,3 lần cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số đạt 8.042 tỷ đồng, gấp 3,1 lần.
Tiền và các khoản tương đương tiền tại thời điểm cuối quý III/2026 đạt 21.197 tỷ đồng, tăng 20,9% so với năm 2025.
Tổng dư nợ vay hợp nhất đạt 69.656 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cuối năm 2025.
Trong 9 tháng đầu năm, EBITDA (lợi nhuận trước lãi vay, thuế và khấu hao) đạt khoảng 19.500 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ vay ròng trên EBITDA giảm từ 2,4 lần trong quý II xuống 2 lần trong quý III/2026.
Với kết quả này, tập đoàn đã vượt 3,3% kế hoạch cơ sở về lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số năm 2026 sau điều chỉnh là 10.000 tỷ đồng. Lợi nhuận 9 tháng cũng cao gấp khoảng 1,5 lần kết quả cả năm 2025.
Theo Masan, tăng trưởng trong quý III ghi nhận đóng góp từ các mảng tiêu dùng, bán lẻ và vật liệu công nghệ cao. Trong đó, Hệ điều hành Tiêu dùng, gồm các nền tảng bán lẻ, thương hiệu tiêu dùng và hoạt động kinh doanh dựa trên dữ liệu, đạt doanh thu 22.656 tỷ đồng, tăng 18,7% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số của nhóm này đạt 3.640 tỷ đồng, tăng 18,1%.
Masan Consumer lãi hơn 5.200 tỷ đồng sau 9 tháng
Trong quý III/2026, Masan Consumer (mã: MCH) đạt doanh thu 8.743 tỷ đồng, tăng 16,3% so với cùng kỳ. Theo doanh nghiệp, đây là tốc độ tăng doanh thu so với cùng kỳ cao nhất trong 3 năm, đồng thời cao hơn mức 14,2% của quý II/2026.
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT) tăng 13,2%; lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số tăng 14,1%, với biên lợi nhuận ròng đạt 22,2%.
Lũy kế 9 tháng, Masan Consumer ghi nhận doanh thu 24.380 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt hơn 5.200 tỷ đồng, tăng 12,1%; biên lợi nhuận ròng đạt 21,4%.
Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu đạt 3.985 đồng, tăng 12,4% trên cơ sở so sánh tương đương sau khi điều chỉnh cho việc phát hành quyền mua và cổ phiếu thưởng.
Theo Masan Consumer, biên lợi nhuận gộp trong quý III và 9 tháng đầu năm nhìn chung ổn định so với cùng kỳ nhờ hiệu quả quy mô, tiết kiệm chi phí và điều chỉnh giá bán để bù đắp mức tăng giá nguyên vật liệu.
Tuy nhiên, tỷ lệ chi phí logistics trên doanh thu tăng từ 3,3% trong quý III/2025 lên 4% trong quý III/2026, khiến tốc độ tăng EBIT thấp hơn tốc độ tăng doanh thu. So với quý II/2026, tỷ lệ này đã giảm khoảng 0,4 điểm phần trăm.
Trong bối cảnh chi phí đầu vào còn cao, từ đầu quý IV/2026, doanh nghiệp đã điều chỉnh giá có chọn lọc đối với một số sản phẩm đồ uống đóng chai và thực phẩm tiện lợi.
Mức tăng doanh thu 14,6% sau 9 tháng đã tiệm cận cận trên của kế hoạch tăng trưởng 11–15% cho cả năm. Masan Consumer đặt mục tiêu doanh thu năm 2026 đạt 33.800–35.000 tỷ đồng.

WinCommerce mở mới ròng 894 cửa hàng
Ở mảng bán lẻ, WinCommerce, đơn vị vận hành chuỗi WinMart và WinMart+, đạt doanh thu quý III/2026 là 12.775 tỷ đồng, tăng 21,2% so với cùng kỳ.
Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 325 tỷ đồng, tăng 86%. Biên lợi nhuận ròng đạt 2,5%, tăng khoảng 0,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ và cao hơn mức 1,2% của quý II/2026.
Trong quý III, WinCommerce mở mới ròng 345 cửa hàng, nâng tổng số điểm bán lên 5.486. Lũy kế 9 tháng, số cửa hàng mở mới ròng đạt 894, so với mục tiêu 1.000–1.500 cửa hàng cho cả năm.
Doanh thu trên cùng cửa hàng tăng 7% trong quý III và 11,4% trong 9 tháng đầu năm. Trong quý III, kênh siêu thị tăng 12,6%, còn mô hình cửa hàng tiện lợi quy mô nhỏ tăng 5%.
Theo Masan, các cửa hàng tại khu vực nông thôn ghi nhận biên EBITDA cao nhất hệ thống, với thời gian hoàn vốn dưới 3 năm.
Tại Masan MEATLife (MML), doanh thu quý III đạt 2.646 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 98 tỷ đồng, tương ứng biên lợi nhuận ròng 3,7%, thấp hơn mức 4,2% của cùng kỳ năm trước.
EBITDA đạt 209 tỷ đồng, với biên EBITDA giảm từ 10,9% xuống 7,9%. Theo doanh nghiệp, diễn biến này liên quan đến việc tăng chi phí marketing và hỗ trợ bán hàng cho các thương hiệu chủ lực, sản phẩm mới.
Doanh thu thịt chế biến tăng khoảng 34% so với cùng kỳ, đóng góp khoảng 40% tổng doanh thu Masan MEATLife. Biên lợi nhuận gộp của ngành hàng này cao gấp khoảng 2 lần thịt tươi.
Lũy kế 9 tháng, lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số của Masan MEATLife đạt 436 tỷ đồng, vượt 45,3% mức cao nhất trong kế hoạch lợi nhuận năm là 300 tỷ đồng.
Với chuỗi Phúc Long, doanh thu quý III đạt 589 tỷ đồng, tăng 14,2% so với cùng kỳ. Chuỗi mở mới 26 cửa hàng tiêu chuẩn trong quý, nâng số cửa hàng độc lập trên toàn quốc lên 239, chưa bao gồm các kiosk trong hệ thống WinCommerce.
Sau 9 tháng, Phúc Long đã mở mới 44 cửa hàng, so với mục tiêu 40–50 cửa hàng cho cả năm. Doanh thu bình quân hằng ngày trên cùng cửa hàng tiêu chuẩn đạt 24,8 triệu đồng trong quý III, tăng 2,1% so với cùng kỳ.

Masan High-Tech Materials lãi hơn 2.100 tỷ đồng trong quý III
Ở mảng vật liệu công nghệ cao, Masan High-Tech Materials (MSR) ghi nhận doanh thu quý III/2026 đạt 14.557 tỷ đồng, gấp 7,1 lần cùng kỳ.
Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 2.148 tỷ đồng, so với mức 5 tỷ đồng của quý III/2025 và tăng 29% so với quý II/2026.
Theo Masan, kết quả này đến từ mặt bằng giá khoáng sản chiến lược thuận lợi, sản lượng tăng và việc tối ưu hoạt động vận hành.
Giá APT bình quân trong quý III đạt 3.129 USD/mtu, giảm khoảng 4% so với quý trước nhưng vẫn cao gấp gần 6 lần cùng kỳ. Sản lượng vonfram tính theo hàm lượng thực tế trong sản phẩm đạt 1.786 tấn, tăng 55%; lượng tinh quặng thu mua từ các nhà cung cấp bên ngoài tăng 78%.
Trong khi đó, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp giảm 35% so với cùng kỳ.
Về cổ tức, sau khi chi trả 1.000 đồng/cổ phiếu, tương đương 1.105 tỷ đồng trong tháng 9, ngày 19/10/2026, cổ đông Masan High-Tech Materials đã thông qua kế hoạch tạm ứng cổ tức đợt hai với mức 5.000 đồng/cổ phiếu, tương đương khoảng 5.500 tỷ đồng.
Theo kế hoạch, tổng cổ tức tiền mặt dự kiến cho năm 2026 là 6.000 đồng/cổ phiếu, tương đương 100% lợi nhuận sau thuế năm 2026. Từ năm 2027, doanh nghiệp định hướng chi trả cổ tức hằng năm không thấp hơn 50% lợi nhuận sau thuế.
Mới đây, MSR cũng bổ nhiệm ông Michael Hung Nguyen làm Tổng giám đốc từ ngày 21/10/2026. Ông đồng thời tiếp tục giữ chức Phó chủ tịch HĐQT.
Trên cương vị Tổng giám đốc, ông Michael Hung Nguyen chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh hợp nhất, phát triển khách hàng và đối tác quốc tế, hợp tác công nghệ và tiếp cận nguồn vốn dài hạn.
Ông Michael Hung Nguyen đồng thời phụ trách thúc đẩy kế hoạch chuyển niêm yết cổ phiếu MSR từ UPCoM sang Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HoSE), dự kiến vào năm 2027, cùng kế hoạch mở rộng sự tham gia của nhà đầu tư chiến lược và tổ chức đầu tư dài hạn.
Ở lĩnh vực tài chính, Techcombank (mã: TCB) đóng góp 1.410 tỷ đồng lợi nhuận từ công ty liên kết cho Masan trong quý III/2026, tăng 13,5% so với cùng kỳ.
Trong quý, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 10.375 tỷ đồng, tăng 25,8% so với cùng kỳ và là mức cao nhất theo quý của ngân hàng từ trước đến nay.
Lũy kế 9 tháng, tổng thu nhập hoạt động đạt 45.204 tỷ đồng, tăng 17,1%. Lợi nhuận trước thuế đạt 28.915 tỷ đồng, tăng 23,7%; lợi nhuận sau thuế đạt 23.014 tỷ đồng, tăng 21,3%.
Tại ngày 30/9/2026, tổng tài sản Techcombank đạt khoảng 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ.
Về cơ cấu sở hữu, Masan dự kiến nâng tỷ lệ nắm giữ tại Masan Consumer từ khoảng 69,4% lên 74,98% trong tháng 10/2026. Đồng thời, Masan Consumer hướng tới nâng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng lên khoảng 25%.
Theo Masan, nguồn vốn thực hiện giao dịch đến từ tiền sẵn có, cổ tức của các công ty thành viên và chương trình mở rộng cơ sở cổ đông tại Masan High-Tech Materials.
