Trước ngày khai trương, bệnh viện đã được cấp phép hoạt động và ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Một cơ sở y tế mới vì thế không bước vào thị trường bằng những phòng khám dịch vụ đơn thuần. Ngay từ đầu, nó đã đứng giữa hai dòng chảy: vốn tư nhân và một hệ thống y tế có sự điều tiết rất lớn của Nhà nước.
Gần hai thập niên sau khi Việt Nam bắt đầu đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ công, những dự án như TNH Lạng Sơn cho thấy khu vực tư nhân đã đi khá xa trong lĩnh vực bệnh viện. Nhưng nếu hỏi khu vực này đã thực sự trở thành một ngành kinh doanh lớn đến đâu, câu trả lời vẫn còn nhiều khoảng trống.
Từ bệnh viện đơn lẻ đến cuộc đua xây chuỗi
Trong những năm đầu của quá trình xã hội hóa, sự hiện diện của tư nhân trong y tế thường được nhìn qua từng cơ sở riêng lẻ. Một bệnh viện được xây, một phòng khám được mở, một nhóm bác sĩ đầu tư máy móc và tổ chức dịch vụ…
Nhưng thị trường giờ đã khác. Thành lập năm 2007, đến nay Hoàn Mỹ đã có 16 bệnh viện và phòng khám, hơn 5.000 bác sĩ phục vụ 2.900 giường với hơn 6 triệu lượt khám bệnh mỗi năm. theo thông tin doanh nghiệp công bố. Vinmec phát triển thành một hệ thống nhiều cơ sở trong hệ sinh thái Vingroup. TNH cũng không còn chỉ là câu chuyện của một bệnh viện tại Thái Nguyên khi tiếp tục mở rộng sang Bắc Ninh và Lạng Sơn.
Điểm đáng chú ý nằm ở chữ “chuỗi”. Khi một doanh nghiệp sở hữu nhiều bệnh viện, bài toán không còn dừng ở việc xây một cơ sở rồi tìm bệnh nhân. Họ phải chuẩn hóa quy trình, tuyển và giữ bác sĩ, đầu tư thiết bị, xây dựng thương hiệu, quản lý dữ liệu và phân bổ vốn giữa các cơ sở. Bệnh viện mới trở thành một phần của chiến lược dài hạn thay vì một dự án độc lập.
TNH Lạng Sơn cho thấy quy mô vốn của thị trường này. Gần 900 tỷ đồng được đầu tư vào một bệnh viện 300 giường, với hơn 32.000 m² sàn. Nhưng khoản vốn ấy không tạo ra doanh thu ngay khi cắt băng khai trương. Bệnh viện cần thời gian để thu hút bệnh nhân, xây dựng đội ngũ, vận hành các khoa phòng và nâng dần công suất.
Đây cũng là điểm khiến kinh doanh bệnh viện khác nhiều ngành dịch vụ khác. Một cửa hàng có thể đóng cửa sau vài tháng nếu không đủ khách. Một bệnh viện đã xây xong sẽ phải tiếp tục vận hành trong nhiều năm, cùng với chi phí nhân sự, thiết bị, bảo trì và các yêu cầu chuyên môn. Vốn vì thế phải đủ “trường” để chờ tài sản này phát huy hiệu quả.
Quy mô toàn hệ thống cũng đã thay đổi. Theo Bộ Y tế, đến cuối năm 2024 Việt Nam có 1.665 bệnh viện, trong đó 384 bệnh viện ngoài công lập. Tổng số giường bệnh đạt khoảng 34 giường trên 10.000 dân, nhưng giường bệnh tư nhân mới chiếm khoảng 6%.
Tuy nhiên, hai cách gọi trong bộ số liệu này cần được phân biệt. “384 bệnh viện ngoài công lập” là cách Bộ Y tế phân loại số cơ sở, còn “6% giường bệnh tư nhân” là tỷ lệ giường bệnh thuộc khu vực tư nhân. Không nên lấy hai con số này để kết luận rằng Việt Nam có 384 bệnh viện tư nhân.
Đó chính là một phần bức tranh của y tế tư nhân Việt Nam hiện nay: đã hình thành những doanh nghiệp có quy mô, nhưng xét trên toàn hệ thống, khu vực tư vẫn chưa chiếm một phần lớn năng lực bệnh viện.
6% giường bệnh và khoảng trống còn lại
6% có thể được nhìn như một tỷ lệ còn khiêm tốn của khu vực tư nhân. Nhưng trong câu chuyện đầu tư, nó cũng cho thấy dư địa mà chính sách đang mở ra.
Quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ giường bệnh tư nhân đạt 15% tổng số giường bệnh và đến năm 2050 đạt 25%.
Từ khoảng 6% lên 15% trong vài năm tới không đơn giản là xây thêm một số bệnh viện. Đó là bài toán về đất đai, vốn, bác sĩ, điều dưỡng, máy móc, công nghệ và khả năng vận hành. Một bệnh viện 300 giường như TNH Lạng Sơn đã cần gần 900 tỷ đồng.
Và vốn cũng mới chỉ là điểm bắt đầu. Một bệnh viện có thể xây xong nhưng chưa chắc đã có đủ bác sĩ. Có máy móc hiện đại nhưng chưa chắc khai thác hết công suất. Có lượng bệnh nhân lớn nhưng vẫn phải kiểm soát chi phí. Một hệ thống nhiều bệnh viện có thể tạo ra quy mô nhưng lại phải giải bài toán đồng nhất chất lượng giữa các cơ sở.
Bảo hiểm y tế làm cho bài toán này càng đặc biệt. Cuối năm 2025, tỷ lệ bao phủ BHYT của Việt Nam đạt khoảng 95,16% dân số, tương đương 97,57 triệu người. Trong năm, hệ thống ghi nhận khoảng 195,5 triệu lượt khám chữa bệnh BHYT và tổng chi phí các cơ sở đề nghị thanh toán khoảng 166.447 tỷ đồng.
Điều đó có nghĩa thị trường bệnh viện tư không phải một thị trường hoàn toàn tách biệt, nơi bệnh nhân chỉ bước vào và trả toàn bộ chi phí bằng tiền túi. Các bệnh viện tư cũng tham gia hệ thống khám chữa bệnh BHYT, bên cạnh bảo hiểm thương mại và các dịch vụ người bệnh tự chi trả.
Vì thế, cạnh tranh trong ngành cũng không chỉ nằm ở việc bệnh viện nào có tòa nhà đẹp hơn hay máy móc đắt tiền hơn. Nó nằm ở khả năng thu hút bệnh nhân, sử dụng hiệu quả đội ngũ chuyên môn, khai thác tài sản, kiểm soát chi phí và xây dựng những chuyên khoa đủ mạnh để tạo dòng bệnh nhân ổn định.
Nhìn theo cách đó, TNH Lạng Sơn không chỉ là một bệnh viện mới. Đó có thể xem là một phép thử cho mô hình mở rộng của bệnh viện tư: bỏ một lượng vốn lớn vào một địa phương mới, xây dựng năng lực từ đầu và tìm cách đưa cơ sở đó vào dòng bệnh nhân của cả thị trường tự trả lẫn BHYT.
Gần hai thập niên xã hội hóa đã tạo ra một lớp doanh nghiệp có khả năng đầu tư hàng trăm, thậm chí hàng nghìn tỷ đồng vào y tế. Một số doanh nghiệp đã chuyển từ sở hữu bệnh viện đơn lẻ sang xây dựng chuỗi. Nhà nước cũng đặt mục tiêu nâng tỷ lệ giường bệnh tư nhân từ khoảng 6% hiện nay lên 15% vào năm 2030.
Nhưng những con số ấy chưa đủ để nói rằng bệnh viện tư Việt Nam đã trở thành một ngành kinh doanh trưởng thành. Thị trường đã có vốn, có chuỗi, có thương hiệu và những dự án quy mô lớn. Điều còn phải chứng minh là khả năng biến những khoản đầu tư rất lớn ấy thành những bệnh viện có công suất đủ cao, chất lượng đủ ổn định và hiệu quả tài chính đủ tốt để tiếp tục mở rộng.
