
Bộ Tư pháp vừa công bố hồ sơ thẩm định dự thảo Luật Đất đai sửa đổi do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng. Dự kiến, dự luật sẽ được trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 2.
Một trong những nội dung đáng chú ý là cơ chế xử lý đối với đất được giao để thực hiện dự án đầu tư nhưng không đưa vào sử dụng hoặc sử dụng chậm tiến độ. Theo đề xuất, chủ đầu tư sẽ phải nộp một khoản tiền tăng dần theo thời gian đất không được đưa vào sử dụng hoặc chậm sử dụng. Đáng chú ý, nếu sau thời hạn 60 tháng kể từ thời điểm được xác định theo quy định mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng, Nhà nước sẽ thực hiện thu hồi.
Quy định này được đặt trong bối cảnh tình trạng dự án chậm triển khai, đất được giao nhưng để kéo dài vẫn tồn tại tại nhiều địa phương. Việc đất đai không được đưa vào khai thác đúng mục đích không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực mà còn tạo ra khoảng trống trong xử lý các dự án kéo dài nhiều năm.
Theo cơ quan soạn thảo, pháp luật đất đai hiện hành đã có quy định xử lý đối với trường hợp dự án không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm tiến độ sử dụng đất. Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy các quy định này vẫn chưa đủ để giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng. Đặc biệt, pháp luật hiện hành chưa làm rõ ranh giới giữa hành vi “không đưa đất vào sử dụng” và trường hợp “tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư”. Việc thiếu tiêu chí rõ ràng khiến quá trình xác định hành vi vi phạm và áp dụng biện pháp xử lý trên thực tế phát sinh nhiều vướng mắc.
Với những dự án không đưa đất vào sử dụng, yêu cầu đặt ra là phải có cơ chế xử lý nhanh để tránh tình trạng đất bị bỏ hoang trong thời gian dài. Trong khi đó, với dự án chậm tiến độ, việc tiếp tục cho phép gia hạn có thể khiến tổng thời gian đưa đất vào khai thác kéo dài, làm gia tăng nguy cơ lãng phí nguồn lực đất đai.
Cần quy định rõ để đảm báo tính khả thi khi thực hiện
Bên cạnh những ý kiến ủng hộ, đối với đề xuất thu hồi đất sau 60 tháng không đưa vào sử dụng, một số cơ quan đề nghị cơ quan soạn thảo quy định rõ trong dự thảo Luật để việc áp dụng có thể đảm bảo tính khả thi.
Cụ thể, theo thông tại hồ sơ thẩm định dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, một số cơ quan gồm: UBND tỉnh Lai Châu, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Hải Phòng, Bộ Tài chính đề nghị quy định rõ về thời gian chậm đưa đất vào sử dụng để áp dụng "thu một khoản tiền lũy tiến" để thuận lợi trong quá trình xác định tiền luỹ tiến.
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng đề nghị đổi tư duy "chậm đưa đất vào sử dụng" thành "chậm hoàn thành dự án đưa vào sử dụng"; áp dụng chế tài nộp phạt bằng tiền tương ứng với thời gian chậm tiến độ. Đồng thời giao cơ quan đăng ký đầu tư làm đầu mối chủ trì theo dõi, xử lý, cơ quan quản lý đất đai phối hợp cung cấp thông tin theo chức năng.
UBND tỉnh Lào Cai đề nghị bổ sung điều khoản giao cho Chính phủ quy định chi tiết về tiêu chí xác định chậm sử dụng đất; thời điểm bắt đầu tính thời gian chậm; cơ chế gia hạn trong trường hợp bất khả kháng và trường hợp chậm do cơ quan nhà nước, chỉ áp dụng biện pháp thu hồi đất đối với phần trách nhiệm thuộc về nhà đầu tư và sau khi đã thực hiện đầy đủ các bước xử lý, tạo điều kiện khắc phục theo quy định.
Đặc biệt, Nghị quyết 21 của Trung ương đặt ra yêu cầu tăng cường giám sát, xử lý các trường hợp vi phạm, đồng thời có chính sách phù hợp đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng. Vì vậy, câu hỏi đặt ra là liệu việc chờ tới 60 tháng mới thu hồi đất có thực sự tạo ra sức ép đủ lớn để buộc chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ hay không.
Phản hồi các ý kiến này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết quy định hiện hành cho phép gia hạn không quá 24 tháng. Trường hợp hết thời gian gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa hoàn thành đầu tư xây dựng thì Nhà nước sẽ thu hồi đất. Trong khi đó, cách tiếp cận của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi có sự thay đổi về cơ chế xử lý. Thay vì chỉ tập trung vào thời điểm thu hồi, dự thảo đề xuất áp dụng chế tài tài chính theo hướng lũy tiến trong suốt 60 tháng đối với thời gian không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm sử dụng đất.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chỉ khi vượt quá 60 tháng mà đất vẫn chưa được đưa vào sử dụng thì Nhà nước mới thu hồi. Cách thiết kế này được cho là phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết 21 về việc xây dựng chính sách thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng.
Mục tiêu của chính sách không chỉ nằm ở việc thu hồi đất sau một khoảng thời gian nhất định mà còn tạo áp lực tài chính đủ lớn trong quá trình dự án chậm triển khai. Khi chi phí phải trả tăng theo thời gian, việc tiếp tục giữ đất mà không đưa vào khai thác sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn về mặt kinh tế. Đây cũng là cách tiếp cận nhằm hiện thực hóa yêu cầu thiết kế chính sách theo hướng khiến việc găm giữ đất nhưng không sử dụng trở nên tốn kém hơn lợi ích từ hoạt động đầu cơ.
