
Theo Quy định số 212-QĐ/TW quy định nội dung vi phạm và hình thức kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật, những hành vi trái phép trên không gian mạng liên quan tới tài sản mã hóa, tài sản số có thể bị áp dụng hình thức kỷ luật khai trừ.
Cụ thể, theo Khoản 3, Điều 42 Quy định số 212-QĐ/TW, Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ: Thực hiện hành vi trên không gian mạng hành vi gồm làm giả, lưu hành, trộm cắp, mua bán, thu thập hoặc trao đổi trái phép thông tin thẻ tín dụng, tài khoản ngân hàng, tài sản mã hóa, tài sản số của người khác; phát hành, cung cấp, sử dụng trái phép các phương tiện thanh toán; giả mạo giấy tờ của cơ quan tổ chức.
Đảng viên có hành vi trực tiếp tham gia hoặc vận động, lôi kéo người khác tham gia các hoạt động kinh doanh đa cấp chưa được cấp phép hoặc các sàn giao dịch tài chính, tiền ảo trái quy định của pháp luật cũng bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ.
Khoản 3 Điều 42 còn quy định khai trừ đối với Đảng viên cho mượn, cho thuê, mở hộ tài khoản ngân hàng, thông tin thẻ ngân hàng hoặc các loại ví điện tử để người khác sử dụng vào mục đích bất hợp pháp.
Tất cả tổ chức đảng và đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng
Quy định số 212-QĐ/TW nêu rõ, tất cả tổ chức đảng và đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải xem xét thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời.
Việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn.
Thi hành kỷ luật phải đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục và thẩm quyền, theo quy định của Đảng; chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh.
Khi xem xét kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, ý thức, thái độ tự phê bình, tiếp thu phê bình và kết quả sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra.
Một hành vi vi phạm chỉ bị kỷ luật một lần bằng một hình thức kỷ luật. Khi cùng một thời điểm xem xét kỷ luật nếu có từ hai hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận từng hành vi vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật cao nhất; không tách riêng từng hành vi vi phạm để thi hành các hình thức kỷ luật khác nhau và kỷ luật nhiều lần.
Theo Quy định, tổ chức đảng bị kỷ luật, tổ chức đảng nơi đảng viên bị kỷ luật sinh hoạt đã chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc kết thúc hoạt động thì việc công bố quyết định kỷ luật thực hiện ở tổ chức đảng đã tiếp nhận việc chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đó.
Kỷ luật tổ chức đảng phải xem xét rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan để xem xét xử lý kỷ luật đối với đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng.
Đảng viên trong tổ chức đảng bị kỷ luật phải chịu trách nhiệm về nội dung vi phạm, hình thức kỷ luật của tổ chức đảng đó và phải ghi vào lý lịch đảng viên; đảng viên không bị kỷ luật về cá nhân vẫn được tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, thực hiện công tác cán bộ theo quy định.
Đảng viên không tán thành hoặc không liên quan trực tiếp đến vi phạm của tổ chức đảng cũng phải ghi rõ vào lý lịch đảng viên.
Quy định số 212-QĐ/TW có hiệu lực từ ngày ký; thay thế Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 06/7/2022 của Bộ Chính trị khoá XIII về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và Quy định số 264-QĐ/TW, ngày 14/02/2025 của Bộ Chính trị về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 69-QĐ/TW.
