Hai đêm concert Anh trai vượt ngàn chông gai 2026 vừa diễn ra giữa tháng 10 thu hút 100.000 khán giả đổ bộ. Ảnh: Yeah1.

Ngày 22/7/2026 tại TP.HCM, YeaH1 cùng iMe Entertainment Group và AlphaZ công bố dự án V-Beyond Concert và ký kết hợp tác chiến lược, với chặng đầu tiên dự kiến tổ chức ngày 21/11 tại Honda Center, Anaheim, California, nơi có sức chứa khoảng 14.000 người. Trước đó từ tháng 1/2026, Sony Music Entertainment đã hợp tác với YeaH1 để thúc đẩy nghệ sĩ Việt tiếp cận các sân khấu và bảng xếp hạng quốc tế.

Tháng 7/2025, DatVietVAC cũng đã tổ chức 2 đêm nhạc của Anh Trai “Say Hi” tại nhà hát Planet Hollywood, Las Vegas (Mỹ) và năm nay “ông lớn” giải trí này đã lên kế hoạch sẽ tổ chức thêm 2 concert tiếp theo tại Mỹ vào cuối tháng 11/2026.

Một vài concert ở Mỹ chưa thể khẳng định V-pop đã bước ra toàn cầu, nhưng việc một số doanh nghiệp Việt chủ động xây hạ tầng để “thử sức” với thị trường quốc tế cho thấy cách nghĩ về ngành biểu diễn đã thay đổi.

Những bước đi này cho thấy tham vọng của các doanh nghiệp giải trí không còn giới hạn ở việc tổ chức chương trình hay tạo ra những hiện tượng truyền thông. Cuộc cạnh tranh đang chuyển sang một cấp độ khác: ai sở hữu nội dung có sức sống dài hạn, ai xây dựng được cộng đồng người hâm mộ trung thành và ai có khả năng biến sức hút ấy thành doanh thu bền vững.

Ở trong nước, YeaH1 và DatVietVAC cũng đang là hai đại diện nổi bật cho xu hướng trên. Từ các chương trình truyền hình, gameshow đến concert, hai doanh nghiệp đang từng bước mở rộng hoạt động quanh nghệ sĩ, nội dung và cộng đồng khán giả, kinh doanh sản phẩm ăn theo, nội dung phái sinh, quảng cáo và trải nghiệm độc quyền.

Trong cuộc đua này, một chương trình hay concert thành công không chỉ được đo bằng lượng người xem hay số vé bán ra, mà còn bằng khả năng tạo ra những nguồn thu tiếp nối sau khi sân khấu khép lại.

Xây dựng hệ sinh thái: Khán giả là trung tâm

DatVietVAC đã gọi chiến lược của mình là IP 360 độ. Trong roadshow IPO diễn ra tại TP.HCM ngày 11/8 và Hà Nội ngày 12/8/2026, doanh nghiệp trình bày mô hình trong đó một IP có thể tạo doanh thu từ truyền hình, nội dung số, quản lý nghệ sĩ, tổ chức biểu diễn, kinh doanh sản phẩm ăn theo (merchandise) và xây dựng cộng đồng người hâm mộ (fandom).

Riêng năm 2025, DatVietVAC công bố đã bán khoảng 167.000 vé concert và 224.000 sản phẩm thương mại gắn với nội dung.

Năm 2025, DatVietVAC công bố đã bán khoảng 167.000 vé concert. Ảnh: DatVietVAC.

YeaH1 cũng theo đuổi hướng đi tương tự, với trọng tâm là phát triển cộng đồng người hâm mộ và đưa V-pop ra thị trường quốc tế. Việc hợp tác Sony Music, iMe Entertainment và AlphaZ cho thấy doanh nghiệp không còn nhìn concert chỉ như một nguồn doanh thu vé, mà như công cụ mở thị trường và nâng giá trị nghệ sĩ.

Đây chính là điểm khác nhau giữa “tổ chức một đêm nhạc” và xây một doanh nghiệp giải trí. Đêm nhạc kết thúc khi sân khấu tắt đèn. Hệ sinh thái phải giữ được fan sau đó, biết người đó quan tâm nghệ sĩ nào, sẵn sàng trả bao nhiêu cho trải nghiệm tiếp theo và có khả năng đưa họ sang một sản phẩm khác.

Trong kinh tế fandom, dữ liệu và cộng đồng trở thành tài sản. Một fan trung thành có thể mua vé nhiều lần, mua hàng lưu niệm, đăng ký thành viên, ủng hộ nghệ sĩ trên nền tảng số và mang thêm người mới vào cộng đồng. Điều đó giải thích vì sao các doanh nghiệp giải trí quốc tế đặt giá trị rất lớn vào quan hệ trực tiếp với fan, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các nền tảng trung gian.

Cuộc đua còn mở rộng sang những tập đoàn sở hữu hệ sinh thái du lịch, thương mại và địa điểm tổ chức sự kiện. Với các doanh nghiệp như Vingroup hay Sun Group, một concert quy mô lớn có thể góp phần thu hút khách đến khu nghỉ dưỡng, khách sạn và tổ hợp vui chơi, kéo theo chi tiêu cho lưu trú, ăn uống, mua sắm và dịch vụ. Đây là lợi thế khác biệt so với doanh nghiệp chỉ tập trung vào sản xuất nội dung hoặc tổ chức sự kiện.

Một concert bán hết 20.000 vé có thể rất thành công về truyền thông, nhưng về kinh tế chưa chắc đã hấp dẫn vì chi phí sân khấu, nghệ sĩ, kỹ thuật và vận hành rất lớn. Nhưng concert có thể trở nên rất hiệu quả nếu nó là công cụ giúp tăng doanh thu cho nhiều tầng khác trong hệ sinh thái.

Cách đây vài năm, một show diễn của ca sĩ Hà Anh Tuấn trên Đà Lạt đã từng kéo theo tới gần 100.000 du khách đến để thưởng thức 3 đêm diễn, đi cùng đó là dịch vụ máy bay, taxi, nhà hàng, lưu trú, quà tặng… mang lại những giá trị kinh tế nhất định cho Đà Lạt.

Tất nhiên, những show diễn như của ca sĩ Hà Anh Tuấn có thể là cú hích ngắn hạn. Còn đối với các doanh nghiệp như YeaH 1, DatVietVAC hay Vingroup, Sungroup thì cần chiến lược dài hạn với những cú hích liên tục, không ngừng sáng tạo, đủ sức khiến người hâm mộ theo đuổi và gắn bó.

Nguồn: Tổng hợp từ thông tin báo chí và công bố của doanh nghiệp.

Từ sức hút sân khấu đến giá trị của công nghiệp văn hóa

Tại một diễn đàn mới đây, đạo diễn Việt Tú cho rằng Việt Nam không thiếu câu chuyện hay di sản, mà thiếu cách chuyển hóa những nguồn lực đó thành sản phẩm. Nhận xét này cũng đúng với ngành giải trí đương đại. Thành công không nằm ở việc mô phỏng mô hình K-pop hay liên tục tăng quy mô sân khấu, mà ở khả năng tạo ra những sản phẩm mang dấu ấn riêng và đủ hấp dẫn để khán giả trả tiền nhiều lần.

Thực tế, âm nhạc đã cho thấy khả năng tạo ra giá trị kinh tế vượt ra ngoài phạm vi biểu diễn. Hai đêm concert của Blackpink tại Hà Nội tháng 7/2023 thu hút hơn 170.000 lượt khách du lịch, mang lại doanh thu du lịch ước tính khoảng 630 tỷ đồng, theo số liệu của Sở Du lịch Hà Nội. Hiệu ứng lan tỏa tới lưu trú, vận tải, ăn uống và quảng bá điểm đến cho thấy một sự kiện âm nhạc có thể tạo lợi ích cho nhiều ngành dịch vụ.

Thị trường trong nước cũng đang mở rộng. Theo nghiên cứu Vietnam Music Landscape 2025-2026 của RMIT Việt Nam, hơn 800 sự kiện âm nhạc diễn ra trong năm 2025; những chương trình như V Concert – Rạng rỡ Việt Nam và Tổ quốc trong tim thu hút khoảng 25.500–50.000 khán giả mỗi đêm. Đây là dấu hiệu cho thấy sức mua không chỉ dành cho nghệ sĩ quốc tế, mà còn đang hình thành quanh các sản phẩm biểu diễn trong nước.

V Concert - Rạng rỡ Việt Nam diễn ra vào tháng 8/2025 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam thu hút 25.000 khán giả.

Tuy nhiên, lượng khán giả đông hay doanh thu du lịch tăng đột biến mới phản ánh một phần tiềm năng. Giá trị dài hạn nằm ở khả năng biến sự chú ý nhất thời thành nhu cầu tiêu dùng lặp lại. Một concert có thể tạo doanh thu từ vé, tài trợ và hàng lưu niệm; nhưng nếu tiếp tục được phát triển thành nội dung số, sản phẩm cấp phép, trải nghiệm độc quyền và các hoạt động dành cho người hâm mộ, giá trị thương mại sẽ không kết thúc khi sân khấu hạ màn. Khi đó, IP trở thành tài sản có thể khai thác trên nhiều kênh và thị trường.

Mô hình của HYBE tại Hàn Quốc cho thấy hướng đi này. Trong năm 2025, doanh thu từ merchandise và cấp phép IP của doanh nghiệp đạt khoảng 570,6 tỷ won, chiếm 21,5% tổng doanh thu; mảng biểu diễn đạt khoảng 763,9 tỷ won, tương đương 28,8%. Cơ cấu này cho thấy doanh thu của doanh nghiệp giải trí có thể đến từ nhiều hoạt động bổ trợ, thay vì phụ thuộc vào âm nhạc hay vé concert. Người hâm mộ cũng không chỉ là người mua vé, mà còn góp phần duy trì sức lan tỏa của nghệ sĩ và tạo nhu cầu cho những sản phẩm tiếp theo.

Ở cấp độ quốc gia, Hàn Quốc đã phát triển công nghiệp văn hóa thành lĩnh vực xuất khẩu có sức lan tỏa rộng. Theo Yonhap dẫn số liệu sơ bộ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc, xuất khẩu nội dung nước này đạt khoảng 14,9 tỷ USD năm 2025, tăng từ 14,1 tỷ USD năm trước; lượng khách quốc tế cũng đạt kỷ lục 18,9 triệu lượt. Dù không thể quy toàn bộ tăng trưởng du lịch cho âm nhạc hay phim ảnh, các con số cho thấy quy mô của một nền kinh tế văn hóa có khả năng kết nối nội dung sáng tạo với hình ảnh quốc gia và các ngành dịch vụ.

Với Việt Nam, bài toán tiếp theo là tạo ra những IP vừa mang bản sắc riêng, vừa có khả năng tiếp cận công chúng rộng hơn. Để làm được như vậy, thị trường cần thêm những doanh nghiệp có năng lực quản trị bản quyền, nhân lực chuyên nghiệp, hạ tầng biểu diễn phù hợp và các kênh phân phối đủ sức đưa sản phẩm ra ngoài biên giới.

Quan trọng hơn, doanh nghiệp và nghệ sĩ cần giữ được quyền khai thác IP, xây dựng thương hiệu và phát triển cộng đồng khán giả riêng. Nếu chỉ tham gia tổ chức sự kiện hay cung cấp dịch vụ, giá trị có thể dừng ở doanh thu trước mắt; nếu sở hữu nội dung và quyền khai thác, họ có cơ hội tích lũy tài sản vô hình để phát triển lâu dài.

Đó cũng là điểm khác biệt giữa một thị trường biểu diễn sôi động và một nền công nghiệp văn hóa trưởng thành. Nếu mọi giá trị chấm dứt khi khán giả rời sân khấu, concert vẫn chỉ là kinh doanh sự kiện. Nhưng khi một đêm diễn trở thành điểm kết nối giữa nội dung, fandom, du lịch, thương mại và thị trường quốc tế, concert mới thực sự trở thành một phần của công nghiệp văn hóa.