![]()
Trong báo cáo thị trường trái phiếu quý III/2026 công bố ngày 28/10, các nhà phân tích từ CTCP Chứng khoán Kỹ thương (TCBS) cho biết lãi suất liên ngân hàng qua đêm bình quân trong quý đạt 3,91%/năm, thấp hơn mức lãi suất nghiệp vụ thị trường mở (OMO) 4,50%/năm.
Ngược lại, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn một tháng bình quân lên 6,63%, cao hơn lãi suất OMO tới 2,13 điểm phần trăm.
Ở kỳ hạn 3 tháng và 9 tháng, mức lãi suất tương ứng đạt 7,36% và 8,84%/năm.

Sự trái chiều này cho thấy trạng thái thanh khoản không giống nhau giữa các kỳ hạn. Nguồn vốn ngắn hạn vẫn có thể dư thừa trong một bộ phận hệ thống, trong khi nhu cầu vốn dài hơn khiến một số ngân hàng phải chấp nhận chi phí vay cao hơn đáng kể.
OMO giảm về đáy 13 tháng, nhưng nhu cầu vay vốn vẫn hiện hữu
Một diễn biến đáng chú ý khác là NHNN đã hút ròng 94.905 tỷ đồng qua kênh OMO trong quý III, đưa số dư OMO lưu hành cuối tháng 9 xuống 150.497 tỷ đồng, thấp nhất trong 13 tháng.
Tuy nhiên, quy mô vốn OMO lưu hành chưa bao giờ giảm về gần 0 trong giai đoạn được TCBS Research theo dõi.
Theo các nhà phân tích, điều này cho thấy vẫn có một bộ phận TCTD thường xuyên cần nguồn vốn từ NHNN, ngay cả khi tổng lượng vốn hỗ trợ qua kênh này đã thu hẹp đáng kể.
Điểm đáng chú ý nằm ở sự khác biệt giữa chi phí vốn trên thị trường và lãi suất OMO. Nếu nguồn vốn từ NHNN có lãi suất 4,50%/năm, thấp hơn đáng kể so với lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn một tháng, việc một số ngân hàng vẫn phải vay với chi phí cao đặt ra câu hỏi về khả năng tiếp cận nguồn vốn này.
TCBS cho rằng một nguyên nhân là không phải tất cả TCTD đều có thể tiếp cận OMO hoặc có đủ tài sản bảo đảm để vay qua kênh thị trường mở. Vì vậy, mức lãi suất OMO không đồng nghĩa mọi ngân hàng đều có thể huy động vốn từ NHNN với cùng điều kiện và quy mô.

Các nhà phân tích từ TCBS chỉ ra: “Nếu giảm tiếp xuống dưới 150.000 tỷ đồng, nhu cầu vay của nhóm này đang thu hẹp. Nếu quay lại vùng 237.000 tỷ đồng như cuối tháng 8, nhu cầu vay qua OMO đang phục hồi”.
Áp lực vốn kéo dài lên một số ngân hàng khi tín dụng tăng nhanh hơn cung tiền
Sự phân hóa thanh khoản diễn ra trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục ở mức cao. Đến ngày 30/9/2026, tăng trưởng tín dụng đạt 11,59% so với cuối năm 2025 và tăng 16,69% so với cùng kỳ. Trong khi đó, cung tiền M2 đến cuối tháng 8 mới tăng 6,84% so với cuối năm trước, tạo khoảng cách 3,35 điểm phần trăm so với tăng trưởng tín dụng.

Theo TCBS, tín dụng mới đang tập trung đáng kể vào lĩnh vực xây dựng và các hoạt động đầu tư hạ tầng, vốn có thời gian hoàn vốn dài hơn. Điều này khiến nhu cầu của hệ thống không đơn thuần là nguồn vốn ngắn hạn để xử lý biến động thanh khoản tạm thời, mà còn là yêu cầu duy trì nguồn vốn phù hợp với kỳ hạn của tài sản.
Khi nguồn vốn huy động và cho vay không khớp nhau về kỳ hạn, ngân hàng khó có thể sử dụng nguồn tiền qua đêm để tài trợ ổn định cho các khoản tín dụng trung và dài hạn. Các nhà băng có nhu cầu vốn vì thế phải tìm kiếm nguồn tài trợ dài hơn trên thị trường liên ngân hàng hoặc thông qua phát hành trái phiếu.
Thực tế, lãi suất coupon bình quân trái phiếu ngân hàng trong quý III tăng 277 điểm cơ bản so với cùng kỳ, lên 8,81%/năm. Diễn biến này cho thấy chi phí huy động vốn qua kênh trái phiếu cũng tăng mạnh, tạo thêm áp lực đối với bài toán cân đối nguồn vốn của các tổ chức tín dụng.
Trong khi đó, nhóm ngân hàng lớn có thể duy trì lợi thế về nguồn vốn ngắn hạn và khả năng huy động, còn các ngân hàng quy mô nhỏ hơn có thể chịu áp lực lớn hơn về chi phí vốn. Tuy nhiên, mức độ phân hóa cụ thể còn phụ thuộc vào cơ cấu tài sản, nguồn tiền gửi, chất lượng tài sản bảo đảm và nhu cầu vốn của từng ngân hàng.
Từ góc nhìn của TCBS, việc đánh giá thanh khoản hệ thống vì vậy cần vượt ra ngoài các chỉ số tổng hợp như lượng OMO lưu hành hay lãi suất qua đêm. Chênh lệch lãi suất giữa các kỳ hạn, khả năng tiếp cận nguồn vốn NHNN và mức độ kết nối dòng tiền giữa các nhóm ngân hàng cũng là những chỉ báo quan trọng.
Trong quý IV/2026, diễn biến số dư OMO và mặt bằng lãi suất liên ngân hàng sẽ tiếp tục là những yếu tố cần theo dõi. Nếu lãi suất kỳ hạn dài duy trì ở mức cao trong khi lãi suất qua đêm vẫn thấp, tình trạng lệch pha thanh khoản có thể tiếp tục hiện diện, ngay cả khi hệ thống chưa thiếu vốn trên diện rộng.
