Về ngành, nghề ưu đãi đầu tư

Dự thảo Nghị định đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về ngành, nghề ưu đãi đầu tư như sau:

Quy định chi tiết tại Điều 19 dự thảo Nghị định về dự án đầu tư có quy mô vốn lớn, dự án đầu tư sử dụng nhiều lao động hoặc dự án đầu tư trọng điểm, quan trọng quốc gia phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư như dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 6.000 tỷ đồng trở lên đáp ứng các điều kiện về giải ngân, doanh thu tối thiếu, lao động…; dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở; dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử dụng từ 500 lao động thường xuyên bình quân hằng năm trở lên theo quy định của pháp luật về lao động (không bao gồm lao động làm việc không trọn thời gian và lao động có hợp đồng lao động dưới 12 tháng); dự án đầu tư sử dụng từ 30% số lao động thường xuyên bình quân hằng năm trở lên là người khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật và pháp luật về lao động; doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ;…

Sửa đổi, bổ sung Phụ lục II về danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư phù hợp với nguyên tắc xác định ngành, nghề ưu đãi đầu tư tại Điều 15 Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 và để đảm bảo tính trọng tâm, trọng điểm của chính sách ưu đãi đầu tư.

Bộ Tài chính cho biết lý do sửa đổi, bổ sung như sau: Điểm c khoản 1 Điều 14 Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 quy định Dự án đầu tư có quy mô vốn lớn, dự án đầu tư sử dụng nhiều lao động hoặc dự án đầu tư trọng điểm, quan trọng quốc gia phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ là đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư. Do đó, việc quy định chi tiết nội dung này là cần thiết.

Điều 15 Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 quy định nguyên tắc xác định ngành, nghề ưu đãi đầu tư là các ngành, nghề được ưu tiên thu hút đầu tư để thực hiện các mục tiêu:

a) Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp công nghệ số và công nghiệp bán dẫn;

b) Phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, kinh tế số, phát triển các mô hình kinh tế mới;

c) Phát triển cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, thu hút đầu tư quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan toả, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu;

d) Phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch; Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia;

đ) Phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp; bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế biển;

e) Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng;

g) Phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục, thể thao thành tích cao và văn hóa dân tộc;

h) Phát triển công nghiệp hóa chất trọng điểm, cơ khí trọng điểm và công nghiệp hỗ trợ; phát triển công nghiệp dược ;

i) Thực hiện các mục tiêu khác theo quy định của Chính phủ.

Do đó, việc xây dựng, hoàn thiện Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư tại Phụ lục II dự thảo Nghị định là cần thiết (Bộ Tài chính đã có công văn số 18969/BTC-PC ngày 05/12/2025 đề nghị các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đề xuất ngành, nghề ưu đãi đầu tư và ngành nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư gắn với mã ngành kinh tế quốc dân).

Về địa bàn ưu đãi đầu tư

Bộ Tài chính đề xuất hoàn thiện quy định nguyên tắc xác định địa bàn ưu đãi đầu tư tại Điều 22 dự thảo Nghị định như sau:

"1. Địa bàn đặc biệt khó khăn bao gồm:

a) Xã khu vực I, khu vực II và khu vực III vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định của Chính phủ;

b) Đơn vị hành chính cấp xã thuộc cấp huyện là địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp;

c) Đơn vị hành chính cấp xã mới thành lập từ nhiều đơn vị hành chính cấp xã thuộc các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp được xác định theo quy định tại điểm a, b và d khoản 3 Điều này.

2. Địa bàn khó khăn bao gồm:

a) Đơn vị hành chính cấp xã thuộc cấp huyện là địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp;

b) Đơn vị hành chính cấp xã mới thành lập từ nhiều đơn vị hành chính cấp xã thuộc các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp được xác định theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 3 Điều này.".

Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định kế thừa nguyên tắc xác định địa bàn ưu đãi đầu tư trong trường hợp thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và trường hợp thành lập đơn vị hành chính cấp xã mới theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Nghị định số 239/2025/NĐ-CP.

Bộ Tài chính chũng đề xuất sửa đổi, bổ sung Phụ lục III về Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư để quy định đơn vị hành chính cấp xã là địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn.

Lý do sửa đổi, bổ sung được Bộ Tài chính đưa ra là: Khoản 2 Điều 15 Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 quy định địa bàn ưu đãi đầu tư bao gồm: Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, khu kinh tế.

Phụ lục III Nghị định số 31/2021/NĐ-CP quy định về Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư bao gồm địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Theo đó, địa bàn ưu đãi đầu tư được xác định đối với đơn vị hành chính cấp Huyện của 54 địa phương trên cả nước. Tuy nhiên, thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, gồm cấp tỉnh và cấp xã, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, việc xác định địa bàn ưu đãi đầu tư theo đơn vị hành chính cấp huyện không còn phù hợp.

Bên cạnh đó, với mục tiêu ưu đãi có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, việc cập nhật, sửa đổi, bổ sung nguyên tắc xác định và Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư là cần thiết.

Về ưu đãi đầu tư đặc biệt

Điều 21 dự thảo Nghị định đề xuất bổ sung quy định về đối tượng áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt trên cơ sở kế thừa quy định tại Luật Đầu tư năm 2020 bao gồm:

"a) Dự án đầu tư thành lập mới (bao gồm cả việc mở rộng dự án thành lập mới đó) trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển, dự án đầu tư xây dựng hạ tầng trung tâm dữ liệu lớn, hạ tầng điện toán đám mây, hạ tầng di động từ 5G trở lên và hạ tầng số khác trong lĩnh vực công nghệ chiến lược theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghệ chiến lược, sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ có tổng vốn đầu tư từ 3.000 tỷ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối thiểu 1.000 tỷ đồng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư; trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

b) Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm, dự án nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử chip bán dẫn, dự án xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo theo pháp luật về công nghiệp công nghệ số đáp ứng quy mô tổng vốn đầu tư từ 6.000 tỷ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối thiểu 6.000 tỷ đồng trong thời hạn 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư;

c) Dự án đầu tư (bao gồm dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng) thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 30.000 tỷ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối thiểu 10.000 tỷ đồng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư.".

Về lý do sửa đổi, bổ sung, theo Bộ Tài chính:Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 đã sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 20 Luật Đầu tư năm 2020 để giao Chính phủ quy định cụ thể quy mô vốn đầu tư và tiến độ giải ngân của dự án thuộc đối tượng ưu đãi đầu tư đặc biệt phù hợp với tính chất đặc thù của từng ngành, lĩnh vực. Do vậy, việc quy định chi tiết nội dung này tại dự thảo Nghị định là cần thiết.