Vốn đầu tư toàn xã hội tăng 15,1%

Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) sáng ngày 3/10 cho thấy, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong 9 tháng năm 2026 theo giá hiện hành ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 11,6% cùng kỳ 9 tháng năm 2025. Mức tăng này phản ánh hiệu quả từ các chính sách điều hành vĩ mô, sự quyết liệt trong đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư công và niềm tin vững chắc của khu vực tư nhân cùng các nhà đầu tư nước ngoài, tạo động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2026.

9-thang-fdi-1.jpg?md5=z1xKf17uVcYRfjMKnIJEew&expires=1791027518

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý III/2026 theo giá hiện hành ước đạt 1.291,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn khu vực Nhà nước ước đạt 416,6 nghìn tỷ đồng, tăng 19,9%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 671,3 nghìn tỷ đồng, tăng 14,9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 203,3 nghìn tỷ đồng, tăng 16,2%.

Ước tính 9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn khu vực Nhà nước đạt 931,0 nghìn tỷ đồng, chiếm 30,0% tổng vốn và tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 1.649,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,0% và tăng 14,0%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 529,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,0% và tăng 14,5%.

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 9 tháng năm 2026 ước đạt 661,8 nghìn tỷ đồng, bằng 59,9% kế hoạch năm và tăng 19,0% so với cùng kỳ năm trước. Cùng kỳ năm 2025, tỷ lệ thực hiện bằng 54,6% và tăng 29,2%.

Theo cấp quản lý, vốn Trung ương đạt gần 97,0 nghìn tỷ đồng, bằng 60,2% kế hoạch năm và tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước; vốn địa phương đạt 564,8 nghìn tỷ đồng, bằng 59,9% và tăng 20,9%.

9-thang-fdi-2.jpg?md5=47jW-14nxJhJGR5rk51PJQ&expires=1791027518

Trong vốn địa phương quản lý, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 455,3 nghìn tỷ đồng, bằng 61,0% và tăng 19,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 109,5 nghìn tỷ đồng, bằng 55,4% và tăng 27,4%.

Tổng vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 30/9/2026 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước.

9-thang-fdi-3.jpg?md5=EPiyisQPqrqfhNzieEf2mQ&expires=1791027518

Trong đó, vốn đăng ký cấp mới có 3.108 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 29,24 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và gấp 2,4 lần về số vốn đăng ký.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 13,38 tỷ USD, chiếm 45,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; vận tải kho bãi đạt 5,14 tỷ USD, chiếm 17,6%; các ngành còn lại đạt 10,71 tỷ USD, chiếm 36,6%.

Trong số 79 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 9 tháng năm 2026, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 9,26 tỷ USD, chiếm 31,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 5,70 tỷ USD, chiếm 19,5%; Luxembourg 4,99 tỷ USD, chiếm 17,1%; Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 3,01 tỷ USD, chiếm 10,3%; Trung Quốc 2,27 tỷ USD, chiếm 7,8%; Nhật Bản 1,56 tỷ USD, chiếm 5,3%; Hà Lan 438,5 triệu USD, chiếm 1,5%.

Đối với vốn đăng ký điều chỉnh, có 948 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 14,15 tỷ USD, tăng 25,1% so với cùng kỳ năm trước.

Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 21,82 tỷ USD, chiếm 50,3% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; sản xuất kinh doanh bất động sản đạt 6,94 tỷ USD, chiếm 16,0%; các ngành còn lại đạt 14,63 tỷ USD, chiếm 33,7%.

Bên cạnh đó, vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 2.335 lượt với tổng giá trị góp vốn 6,97 tỷ USD, tăng 44,0% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, có 725 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 2,64 tỷ USD và 1.610 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 4,33 tỷ USD.

Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đạt 2,75 tỷ USD, chiếm 39,5% giá trị góp vốn; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 2,02 tỷ USD, chiếm 28,9%; ngành còn lại đạt 2,20 tỷ USD, chiếm 31,6%.

FDI thực hiện đạt mức cao nhất 5 năm

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 9 tháng năm 2026 ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 9 tháng trong 5 năm qua.

9-thang-fdi.jpg?md5=gggw3iIqBot7ULJ8AeI_0Q&expires=1791027518

Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 17,40 tỷ USD, chiếm 82,6% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,59 tỷ USD, chiếm 7,5%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 723,4 triệu USD, chiếm 3,4%.

Ở chiều ngược lại, đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 9 tháng năm 2026 cũng ghi nhận mức tăng đáng kể.

Trong kỳ, có 121 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 1,28 tỷ USD, tăng 80,9% so với cùng kỳ năm trước; có 32 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 1,49 tỷ USD, gấp 10,8 lần.

Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, gồm vốn cấp mới và điều chỉnh, trong 9 tháng năm 2026 đạt 2,77 tỷ USD, gấp 3,3 lần so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, vận tải kho bãi đạt 602,4 triệu USD, chiếm 21,7% tổng vốn đầu tư; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 585,8 triệu USD, chiếm 21,1%; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 516,6 triệu USD, chiếm 18,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 320,1 triệu USD, chiếm 11,5%.

Trong 9 tháng năm 2026, có 36 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam. Trong đó, Lào là nước dẫn đầu với 669,0 triệu USD, chiếm 24,1% tổng vốn đầu tư; Campuchia 486,5 triệu USD, chiếm 17,5%; Ấn Độ 357,2 triệu USD, chiếm 12,9%; Indonesia 340,2 triệu USD, chiếm 12,3%; Philippines 193,6 triệu USD, chiếm 7,0%; Kazakhstan 149,9 triệu USD, chiếm 5,4%; Hoa Kỳ 99,48 triệu USD, chiếm 3,6%.